NSGN - Tôi quyết định “Biết
vọng không theo” với một niềm tin rất lớn. Tôi tin nó sẽ giúp mình thanh tịnh.
Khi tâm thanh tịnh, tôi có thể hiểu những gì mình chưa hiểu.
Khơi dậy niềm tin
Mấy hôm nay, Phật tử đã được vào thăm Sư ông(1).
Tôi cũng đã luồn theo đám đông để nhìn cho được Sư
ông. Rồi vội lách ra. Phật tử trông ngóng háo hức thấy tội. Đông quá, biết làm
sao giờ!
Được thấy Sư ông là diễm phúc rất lớn với những
người Phật tử ở xa như tôi. Nhỏ Ngọc thủ thỉ giọng đầy xúc động: “Hòa thượng
nhìn em ánh mắt từ bi vô hạn. Phiền não tan hết chị ơi! Thấy lòng nhẹ nhàng khó
tả. Nhìn thấy Hòa thượng mà nghĩ lại thân, thấy xấu hổ quá! Phải gắng tu hành,
đền đáp ít nhiều công ơn của Hòa thượng”. Phiền não đeo con nhỏ như cục nợ ba
đời. Tôi nói xuôi, nói ngược, nói tới, nói lui thế nào con nhỏ cũng ôm mớ đó mà
đi. Vậy mà chỉ một cái nhìn, cục nợ vẫy tay. Nó còn lập chí nhất quyết tu hành.
Giờ thì nhỏ hiểu vì sao tôi cứ giục nhỏ vào gặp Sư ông. Cội tâm thanh tịnh có
thể khơi dậy cái chủng bình an cho chúng hữu tình một khi đủ duyên.
Cũng có người cọc cạch xe đạp suốt thời học trò,
qua bao ngõ phố, đến bao nhiêu chùa, chỉ để theo thầy “Thính pháp, văn kinh, và
khóc - giống như Phật tử bây giờ”. Rồi đu xe than ra tận Thường Chiếu xin tu.
Chẳng qua vì một nụ cười. “Tất cả đều rất lạ. Chỉ có nụ cười vẫn cứ quen”(2).
Còn tôi ngày đó…
Đến với thiền là nhờ những bài Sư ông đã giảng,
được quay ronéo bán ở chợ trời. Sáu cửa vào động Thiếu Thất, kinh
Pháp bảo đàn và một quyển Thiền đốn ngộ. Chữ thì trình độ lớp ba
là đã đọc được. Nhưng hiểu, thì phải thứ gì ngang với tâm thức của mình, mình
mới hiểu được. Thành hiểu thì rất khiêm nhường. Chánh văn nhường Tổ, con chỉ
khiêm nhường đọc lời chú giải mà thôi. Cũng không được nhiều. Chỉ nhớ một chữ ma-ha.
Cái tâm ma-ha có thể giúp mình vượt qua khổ nạn trong cuộc đời này. Không cần
phải chuyển đi đâu mất công, tốn tiền. Chỉ cần chuyển tâm.
Lại thêm cái Báo oán hạnh(3). Khổ nạn đời mình phải nói là nhiều. Khổ nhất là
thấy nhân quả rành rành mà mình không phải thứ hiền. Khổ nữa là thấy tiền tình
vô thường, muốn tới lúc nào đó tới, muốn đi lúc nào đó đi, trở tay không kịp.
Ba lần trắng tay đủ mất phương hướng với việc kiếm tiền. Chưa kể người thân
bỗng dưng trở thành kẻ oán. Sao nhiều thống khổ nhiêu khê! Cái “Báo oán hạnh”
nó giúp mình hiểu ít nhiều cái khổ của mình. Thôi thì ráng tu để sống cho được
với tâm ma-ha, cái tâm rộng lớn mà ai cũng có, chỉ vì bỏ quên không chịu nhận
ra. Sống được, khổ nạn không còn, đời sẽ an vui. Địa ngục không khác Niết-bàn.
Đốn ngộ thì nói nhận lại ma-ha không khó. Ăn thua
có chí không thôi. Vì nó ở tại ngay mình. Có thể thành Phật ngay trong kiếp
này. Nghĩ Tổ dụ khị nhưng vẫn cứ tin. Bởi vì quá ngán cuộc đời này rồi. Phải có
niềm tin để sống. Tôi tin Phật Tổ không dối bao giờ. Sư ông cũng nói. Nhất định
Ông phải nhận được cái gì từ nơi Phật Tổ, câu cú mới mạnh thế kia. Nó xuyên cái
đầu vô minh, cho tôi đóm lửa vin đó mà đi.
Sư ông đã khiến cuộc sống của tôi thay đổi rất
nhiều.
Tôi tự kê gối hành thiền.
Cuộc sống của tôi khởi sắc.
Phải nói niềm tin mang lại hạnh phúc rất nhiều. Bất
hạnh cho ai không có niềm tin trong cuộc đời này.
Những ngày an bình
Phải đến lâu sau, tôi mới có duyên gặp được Sư ông.
Lần đầu tiên gặp Sư ông chỉ có anh là vào được.
Không nhớ vì sao như vậy. Đông quá chen chân không lọt thì phải. Sư ông cho anh
cuốn kinh Kim cang và dạy: “Đạo và đời phải cân bằng”.
Đời và đạo, kinh sách và tôi, tọa thiền và kiếm
cơm, đạo và đời, hai bờ mé ấy phải có sự cân bằng. Tôi đã dùng cách lý luận như
thế để hiểu về những gì có lợi cho tôi. Tôi thấy Sư ông nhân ái quá đỗi! Người
chủ gia đình, không thể nói tu rồi thí cô hồn tất cả. Anh không thể dành tất cả
thời gian cho kinh sách, còn tôi thì bỏ mặc một mình với lũ trẻ nhóc nhoi. Cũng
không thể ngồi thiền cả ngày, còn tôi thì phải bươn chải kiếm tiền cực khổ. Tôi
tin tưởng vào lòng nhân ái của ngài rất mực. Sư ông đã gieo cho tôi một mầm
sống, lại còn ban cho tôi một lu nước để mầm sống được lớn lên.
Những ngày cuối tháng sau đó, tôi đều gặp được Sư
ông. Trong sự im lặng thanh bình. Không phải không biết hỏi gì mà mọi câu hỏi
đều được trả lời trong những bài giảng. Điều đó trở thành quy luật, không cần
hỏi nữa. Tôi dành thời gian ngắn ngủi của mình để nhìn Sư ông. Tôi thích cái
tướng “an ổn chắc nịch” của ngài. Tôi đã diễn nôm tướng trạng “định tỉnh uy
nghi” bằng cách như thế. Một lực gì đó lan tỏa rất mạnh. Cái lực giúp tôi kiên
cố băng qua khó khăn, bỏ mặc chê khen của đời.
Cảm kích uy đức
Đã một thời
xôn xao, khi Sư ông nêu ra những việc “không hay” có trong Phật giáo. Không
phải chỉ với người ngoài mà ngay cả trong các Chiếu, những gì bất lợi
cho việc tu học đều được nêu ra trong các băng giảng. Điều đó có thể đã làm mất
lòng một số ít người. Nhưng với đa phần, tôi thấy ở họ một sự cảm kích. Với
hàng Long tượng, lại càng không vì những lời nói đó mà sinh bất mãn.
Đa phần Phật tử cười ồ khi bị Sư ông điểm trúng tật
xấu của mình. Sư ông nhắc nhở như đùa. Phật tử biết lỗi nhưng không mặc cảm hay
thấy bực bội. Chất giọng nhân từ chỉ khiến chúng tôi cảm thấy yên vui khi rời
thiền viện.
Ngài không quan tâm đến việc cúng dường. Quan trọng
là biết đường tu. Tôi thấy Sư ông rất vui khi có ai đó hỏi ngài về việc tu
hành. Cũng không vì việc cúng dường cho mình mà không nói lời hữu ích cho
người. Sư ông nói với lão bà bạn tôi, người hay nhận tiền bạn bè mang đến cúng
dường Sư ông: “Không cần phải làm những việc khổ nhọc đó nữa. Tuổi đã lớn rồi,
cần dành thời gian tu tập cho mình”.
Một hoài bão nữa của ngài là muốn Phật tử phát
triển trí tuệ. Phật tử nếu có trí tuệ, những việc mê tín đáng buồn trong chốn
già lam không thể xảy ra. Tăng Ni cũng phải giữ mình tu hành tinh tấn, không thể
giải đãi. Cũng không vì phải tùy duyên đến nỗi mất mình. Sư ông thấy rõ được
mặt duyên khởi của pháp, nên muốn làm sao nâng cao trình độ hiểu pháp của hàng
Phật tử tại gia.
Cư sĩ, nếu đủ khả năng truyền pháp, vẫn được Sư ông
khuyến khích không khác Tăng Ni. Sư ông thường lấy hình ảnh ngày xưa của các cư
sĩ đại lão, khuyến khích cư sĩ ngày nay noi theo. Cố gắng tu hành, truyền
pháp.
Sư ông dụng pháp đúng thời, đúng duyên và rất dứt
khoát. Thương yêu chúng sinh rất mực, nhưng nếu ảnh hưởng đến việc tu học, Sư
ông dứt khoát không cho. Cúng dường âm nhạc giúp giới ca sĩ gieo duyên với Tam
bảo, cũng là một duyên giúp người vào đạo rất hay. Sư ông cũng từng nói về lợi
ích của nó. Nhưng đó là việc dẫn đạo ngoài đời. Còn với nhân duyên tu hành nơi
chốn thanh tịnh, Sư ông dứt khoát không cho. Âm nhạc không tốt đối với thiền
sinh. Thiền sinh nghe nhạc, dù là nhạc đạo, thì cũng đang để nhĩ căn chạy theo
thanh trần. Sám pháp ngày nào cũng tụng, lại là giới của Sa-di, đâu thể nào
phạm. Cho nên, Sư ông nhất quyết không cho.
Còn biết bao việc…
Sư ông đã tạo cho tôi niềm tin rất lớn đối với Tăng
bảo.
Lợi ích muôn người
Thời Sư ông còn đi giảng, Ông đi tới đâu Phật tử
theo tới đó. Tôi cũng bỏ việc chạy theo. Ngày Sư ông được mời đi giảng ở Vạn
Hạnh, người bạn đảo khắp một vòng rồi quay lại nói: “Mỗi lần Hòa thượng đi
giảng như vầy, nhiều người được lợi ích lắm. Không phải chỉ có Tăng Ni, Phật
tử. Tôi thấy phòng phát hành sách chật ních, căng-tin cũng đông. Rồi cả xe thồ,
xích lô. Mọi người đều thấy có phần”. Song đó chỉ là mặt nổi. Nhận pháp tu hành
mới là lợi ích lớn lao. Có lẽ hiện giờ cũng không nơi nào Tăng Ni tập trung tu
hành nề nếp đông đảo như ở Thường Chiếu, Viên Chiếu v.v…
Trong việc xây dựng, hoằng pháp v.v… thuận duyên
cũng nhiều, khó khăn cũng có. Đức Phật còn không tránh khỏi. Nhưng nhờ việc đó,
tôi nhận ra mặt duyên khởi đối đãi của pháp ở thế tương sinh. Những ngày Sư ông
đi giảng nước ngoài. Vài việc gây cấn xảy ra. Qua rồi, Phật tử hồ hởi, những
người không biết Sư ông, tò mò đi tìm băng giảng. Mọi thứ khuấy động, đánh
trúng tâm lý ưa thích thị phi ở đời. Họ muốn xem ông Thanh Từ là ai và cách ông
đã xử lý tình huống khó khăn thế nào. Có người phát tâm theo ngài từ đó.
Thứ mình thấy khó không hẳn là khó. Ngoài việc
chứng minh nội lực tu hành, nó còn có thể trở thành trợ duyên cho việc hoằng
pháp nếu mình có đủ định tỉnh, xử lý công việc trí tuệ. Nghịch duyên biến thành
trợ duyên. Đúng là tuệ đức tôn nghiêm, tướng nào cũng làm lợi ích cho chúng hữu
duyên. Thật khó nghĩ bàn! Tất cả đều là diệu dụng của từ tâm.
Pháp môn “Biết vọng không theo”

Tôi tin tưởng. Tôi muốn chuyển đời. Nên không thể
chỉ nghe và đọc. Vả lại, nghe và đọc là một chuyện, mà hiểu hay không lại là
chuyện khác. Hiểu như kiểu của tôi cũng chẳng giúp gì cho tôi trong việc thoát
khổ.
Tôi quyết định “Biết vọng không theo” với một niềm
tin rất lớn. Tôi tin nó sẽ giúp mình thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh, tôi có thể
hiểu những gì mình chưa hiểu. Có thể sống ở cõi Ta-bà mà không thấy khổ đau.
Tôi tin vào sự thành công và đã dụng nó mọi lúc, mọi nơi.
Việc ứng dụng thật ra không khó: Nhận biết tất cả
những gì hiện lên trong tâm khi chúng xuất hiện. Không để nối tiếp dù là niệm
thiện hay ác. Nó giống như pháp quán tâm mà Phật đã dạy. Cái khó là niệm đã
được nuôi dưỡng quá lâu. Lực của vọng niệm quá mạnh. Dù chỉ cần biết là niệm đã
dừng, nhưng rồi lại quên. Giữ lâu thì thấy đau đầu…
Nhiều người đã chê pháp môn Sư ông đã dạy. Nói
“Pháp không được rốt ráo. Chỉ như lấy đá đè cỏ. Hết đè, cỏ lại mạnh lên”.
Có người cũng đã bỏ cuộc. Thân còn mà tâm không
thể công phu.
Tôi có cái khổ sau lưng giục tới. Còn có niềm tin
mạnh mẽ trong lòng. Không thể bỏ cuộc dễ dàng. Tôi phải đi đến cuối đường những
gì đã chọn. Tôi sẽ nhận ra những gì mình đã đi qua, có thể là trễ nhưng không
hối tiếc về sau. Nghiệp duyên đâu chỉ một đời. Còn vô số kiếp về sau để rút
kinh nghiệm. Vấn đề là phải có đi, mới biết thực hư thế nào.
Tôi nhận ra rằng: Pháp môn chỉ là phương tiện,
không phải cứu cánh. Nên lập pháp môn đồng như cứu cánh là việc không thể. Tuy
vậy, phương tiện có thể đưa đến cứu cánh. Nếu ta đưa được cái tâm “đa niệm” về
lại “nhất niệm” hoặc là “không niệm”, thì việc bùng vỡ nhất định xảy ra. Niệm
Phật, tham thiền v.v… đều theo hướng đó mà đi. Đều có khả năng giúp tâm bùng
vỡ.
Khi lực của những động niệm còn mạnh, thì dù niệm
Phật, tham thiền hay là “biết vọng không theo”, ít nhiều đều có chữ “đè” trong
đó. Nếu ta sợ “đè” rồi để niệm tưởng thoải mái thì không bao giờ dừng được lực
nghiệp.
Cũng nhận ra rằng: Hết vọng hay không, không phải
vấn đề. Quan trọng là ở chữ “lực”. Niệm tưởng có lực, sáu đường
thiên biến vạn hóa như thực. Niệm tưởng không lực, vọng chính là vọng,
thân tâm, thế giới hiện nguyên bản chất huyễn hư. Cũng vì lực đó mà thấy có đè
hay không. Lực đã yếu rồi, vọng đâu còn sức để bung mà nói đè hay không đè. Cái
khó của mình là làm thế nào để thừa niềm tin và đủ năng lực mà vượt cho qua
giai đoạn “đè” này.
Tôi cũng nghiệm ra một điều: Thế giới khổ đau là
do không thể nhận chân những gì đã huân trong tâm trước đây cho tới bây giờ. Đủ
duyên liền khởi, không có thời gian để thấy là nên hay không. Không đủ định lực
để dừng, nên lỡ tới rồi cứ thế tới luôn. Thành ra, dù chưa được cứu cánh, thì
việc nhận rõ những gì đang hiện trong tâm và đủ khả năng dừng nó, cũng giúp rất
nhiều trong việc thoát khổ gây nghiệp. Một khi đã đủ định tỉnh điểm mặt vọng
niệm, ác nghiệp nhất định phải dừng, thiện nghiệp nhất định phát sinh. Khổ đau
chấm dứt. Nó thật rất cần cho những con người nửa đời nửa đạo như tôi. Có thể
hiện giờ tôi chẳng bằng ai. Nhưng với con người trước đây, nhút nhát, lo âu,
sân giận, sợ hãi… giờ đã thay đổi rất nhiều.
Pháp bảo giúp tôi thay đổi, an vui, giúp tôi củng
cố niềm tin đối với Tăng bảo, Phật bảo rất nhiều.
Lòng từ của bậc Tôn sư
Đã đến giờ, chư Tăng phải đưa Sư ông vào nghỉ…
Tôi nhìn thấy bàn tay Sư ông rị lại nơi cánh cửa.
Chỉ là cái rị tay bình thường, nhưng chứa đựng trong đó bao nhiêu yêu thương.
Rồi cũng sẽ vào...
Nhưng nán lại vài giây để nhiều người được hạnh
phúc.
Nán lại vài phút để lắm kẻ bớt lo âu.
Khổ nhọc đời thường với bao lo toan bức xúc sẽ được
đặt xuống nơi đất thiền tông thanh tịnh. Dù chỉ vài phút cũng khiến cuộc đời ấm
dịu hơn lên, giúp kẻ lữ hành đi hết con đường mà mình đã chọn.
Nguyện học cho được lòng từ vô hạn của bậc Tôn sư
đối với chúng sinh…
Chú thích:
(1) Sư ông ở đây là Sư ông Thích Thanh Từ.
(2) Lời của SC. Hạnh Chiếu trong bài Cho một khúc quanh.
(3) Sáu cửa vào động Thiếu Thất.