Phật giáo không đo
lường giá trị của một cá nhân
hay một quốc gia qua của cải vật chất. Người giàu có
được coi là có đầy đủ hay dư thừa tài sản. Có nhiều loại tài sản như tiền bạc,
hay kiến thức hoặc thông tin kinh tế, tâm linh. Tuy nhiên bài viết này chỉ đặt
trọng tâm vào quan điểm của Phật giáo đối với của cải vật chất và kinh tế.
Mặc cảm tội lỗi
Người Phật tử không nên có mặc cảm tội lỗi vì sinh
ra trong gia đình giàu có, được thừa hưởng gia sản hay khi tích lũy của cải vật
chất. Những điều này cần được coi là quả của nhân thiện trong quá khứ. Luật
nhân quả đóng một vai trò quan trọng trong triết lý của Phật đạo. Nhân thiện sẽ
đưa đến kết quả lành và nhân bất thiện sẽ đem lại quả xấu ác. Do đó, được sanh
vào gia đình giàu có là quả của nhân thiện trong những kiếp trước trong vòng
sinh tử luân hồi. Được thừa hưởng gia tài và tích lũy được tài sản trong kiếp
này cũng được coi là quả của hành động thiện lành trong chính kiếp sống này hay
những kiếp quá khứ. Những hành động thiện lành như bố thí, rộng lượng sẽ đưa
đến quả giàu có trong tương lai.
Sự nghèo
khó
Nhiều tôn giáo cho rằng sống trong sự nghèo khó là
được gần hơn với đấng thượng đế đầy quyền lực. Tuy nhiên, Phật giáo không chấp
nhận việc có một đấng tối cao có toàn quyền định đoạt số phận của nhân loại.
Đối với người Phật tử, chỉ có Đức Phật, vị thầy mà trời và người không thể sánh
bằng. Người có thể dìu dắt đệ tử của Ngài ra khỏi bản chất khổ đau của cuộc
sống trong luân hồi. Hơn thế nữa, Phật giáo không lý tưởng hoá sự nghèo khó mà
còn coi sự nghèo khó là nguồn gốc của tội ác và là chướng ngại của sự tiến bộ
tâm linh. Nghèo khó là trái ngược với giàu có, và những ai phải chịu đói khổ,
thiếu ăn khó thể có phương tiện, điều kiện để hướng tới sự phát triển tâm linh.
Người Phật tử thường trải lòng từ bi đến những người phải bị nghèo đói và chính
Đức Phật Ngài cũng khuyên các vị vua chúa trong thời của Ngài hãy dùng mọi
phương tiện để xóa bỏ đói nghèo. Có lần Đức Phật đã quán sát thấy một người đến
nghe Pháp của Ngài đang bị cơn đói hành hạ, nên đã dạy đệ tử của Ngài trước
tiên phải cho người đó ăn vì người ta không thể thâu thập được giáo lý của Đức
Phật khi họ đang đói.
Sự tích
lũy
Phật giáo không giới hạn mức độ của cải vật chất mà
người ta có thể tích lũy được. Điều giới hạn duy nhất là của cải đó phải được
tạo ra bằng những phương tiện chân chính, công bằng, không làm hại đến sự phát
triển tâm linh của mình và lợi ích của người khác. Một yếu tố trong Bát chánh
đạo của Đức Phật để giúp ta thoát khỏi những khổ đau trong luân hồi là Chánh
mạng. Khi kiếm sống, ta cần tránh những nghề nghiệp liên quan đến vũ khí, con
người như là mua bán nô lệ, mua bán phụ nữ, cướp mạng sống của con người, chế
tạo thuốc độc và những chất gây say. Ta cần phải kiếm sống bằng những nghề
nghiệp lương thiện, không thể bị chê trách, kết tội. Trong Phật giáo, sự chủ
tâm rất quan trọng. Đức Phật đã nói như sau: “Hỡi các Tỷ kheo, ta coi sự chủ
tâm, tư tâm sở là nghiệp” (Cetanaham Bhikkhave, kammam vadami). Khi đã có chủ
tâm, người ta sẽ biểu hiện ra bằng hành động, lời nói hay ý nghĩ. “Nếu con
người tạo ra của cải vì lòng tham muốn, hay để tỏ ra thành công hơn người khác,
để trở nên trác táng, sống một cuộc đời quá hoang phí, vô tâm thì đó là hành
động bất thiện. Trái lại, nếu ta làm việc chăm chỉ hầu tích lũy tài sản để hoàn
thành trách nhiệm với gia đình, thân quyến, bạn bè, mục đích thiện và để giúp
những người cần được giúp đỡ thì những hành động đó được coi là thiện lành,
đáng được tán thán”.
Một điển hình cho việc tích lũy tài sản một cách
đúng đắn, vì những mục tiêu đáng được tán thán trong thời của Đức Phật là ngài
Cấp Cô Độc, một người giàu có nổi tiếng. Ngài tạo ra tài sản bằng sức lực của
mình để hoàn thành các trách nhiệm và để ủng hộ những mục tiêu xứng đáng, mà
nổi tiếng nhất là giúp đỡ Đức Phật trong việc hoằng dương Chánh pháp.
Chất
chứa & bám víu
Sự chất chứa và bám víu vào của cải, dầu đã được
kiếm bằng những phương tiện đúng đắn, cũng tạo ra nghiệp ác. Sự chất chứa và
bám víu vào tài sản là chướng ngại đối với việc thanh tịnh hóa tâm, để đưa đến
việc đạt được mục tiêu cuối cùng của người Phật tử là Niết bàn. Hơn thế nữa,
việc chất chứa và bám víu không giúp ta có được hạnh phúc, an bình trong chính
kiếp sống này, vì của cải vật chất đó không được sử dụng để đem lại lợi ích cho
bản thân và cho người khác.
Một trong những người giàu nhất trên thế giới trong
những năm cuối dưới thời thực dân Anh ở Ấn Độ là Nizam của Hyderabad. Ông ta bỏn xẻn đến nỗi hút cả
những mẩu thuốc lá còn thừa lại của khách. Khi bác sĩ đến nhà để đo điện tâm đồ
(E.C.G) cho ông, thì máy đo không thể hoạt động. Cuối cùng bác sĩ khám phá ra
rằng để tiết kiệm điện, ông ta đã giảm cường độ điện trong nhà, đến nỗi không
chiếc máy điện nào có thể hoạt động trong ngôi nhà đó. Phòng ngủ của gia đình
Nizam thì giống như một căn lều trong khu ổ chuột với giường gối tả tơi, vài ba
chiếc ghế, mấy gạt tàn thuốc tràn đầy những mẩu thuốc lá thừa và những chiếc
giỏ rác. Sự kiện này đã được ghi lại trong quyển sách nổi tiếng, Freedom at
midnight (Tự do lúc nửa đêm), thiên sử về sự đấu tranh giành độc lập
của dân Ấn Độ, do các tác giả Larry Collins và Dominique Lapierre thực hiện.
Hoàng đế Pasenadi, nước Kosala, có lần đã bạch với
Đức Phật rằng, ông đã đến kho bạc nhà nước để thừa nhận tài sản của một người
rất giàu có đã bị chết đi mà không có người thừa hưởng gia tài. Người này khi
còn sống, dù rất giàu có nhưng đã sống rất khổ sở, thiếu thốn. Đức Phật đã giải
thích rằng, trong một tiền kiếp, người này đã bố thí rộng rãi, nhưng sau đó lại
hối hận, nên đã tạo ra nghiệp ác. Do hành động thiện là bố thí, nên ông có thể
tích lũy được tài sản nhưng lại không có ý muốn sử dụng nó cho lợi ích của bản
thân hay cho người khác vì hành động bất thiện của việc tiếc nuối, hối hận vì
đã bố thí. Sự giàu có như thế đã được so sánh với một hồ nước trong lành, mát
mẻ, sạch sẽ nhưng ở trong một khu rừng hiểm hóc. Người ta khó thể đến được hồ
nước vì khu rừng độc. Cũng thế, là việc có của cải, tài sản nhưng không có ý
muốn dùng nó để đem lại lợi ích cho bản thân và cho người khác.
Người xuất gia & người tại gia
Đức Phật đã tạo ra những giới luật khác nhau cho
người xuất gia và tại gia. Người xuất gia đã từ bỏ thế giới vật chất và đời
sống thế tục để dốc toàn lực và thời gian của họ vào việc phát triển tâm linh
và đem lại lợi ích cho xã hội. Họ không được tự do tạo ra của cải. Tài sản
riêng của họ phải giới hạn đến mức tối thiểu trong thực phẩm, y áo, thuốc men
và chỗ trú ngụ. Một vị tu sĩ có thể nhận những phẩm vật khác cho Tăng đoàn,
nhưng nếu cá nhân người ấy có nhiều vật sở hữu riêng, thì điều đó phản ảnh sự
tham đắm và bám víu, không đúng với giới luật của người tu. Những giới hạn về
việc tạo ra tài sản cá nhân như thế không áp dụng đối với người tại gia. Người
cư sĩ cần có nghề nghiệp để hỗ trợ gia đình và bản thân. Có người bằng lòng với
việc sở hữu một tài sản khiêm tốn, nhưng cũng có người dựa vào tài sản vật chất
nhiều hơn. Đối với Phật giáo, nếu người cư sĩ tạo ra của cải bằng phương tiện
chân chính, để sử dụng cho mục đích thiện lành thì không bị lên án. Phật giáo
cũng có quan điểm tương tự về quan hệ tình dục. Tu sĩ không được có quan hệ
tình dục, nhưng người cư sĩ thì được phép, miễn là hành động đó không làm hại
đến người khác và tuân theo luật lệ hôn nhân gia đình.
Các giới
hạn
Người khôn ngoan phải biết giới hạn của đồng tiền.
Dầu có người nói rằng tiền mua được tất cả, nhưng suy nghĩ như thế thật là nông
cạn. Ngay chính một nhu cầu đơn giản thường nhật như một giấc ngủ ngon, tiền
cũng không mua được. Nhiều người sống trong những ngôi nhà cao sang, với bao
tiện nghi dành cho sự ngủ nghỉ, nhưng họ cũng không thể ngủ ngon giấc, dầu dùng
cả đến thuốc ngủ. Ngược lại, có những người thật nghèo khổ, lại ngủ ngon lành
dưới một gốc cây, đầu gối trên cánh tay. Hơn nữa, ta không thể dùng tiền bạc để
xua đuổi tuổi già, bệnh tật và cái chết hay dùng tiền bạc để kéo dài tuổi thọ.
Cũng đúng là tiền bạc có thể giúp ta giảm bớt phần nào cái khổ của tuổi già và
bệnh tật. Của cải vật chất có thể giúp người già được thoải mái hơn, và khi
bệnh tật, người giàu có thể tìm được những phương tiện chữa trị và tư vấn tốt
hơn. Tuy nhiên, tuổi già, bệnh tật và cái chết không thể tránh được nhờ giàu
có. Lúc chết, ta phải để lại phía sau tất cả tài sản, cũng như người thân yêu,
bạn bè. Những lời dạy của Đức Phật liên quan đến vấn đề này được tìm thấy trong
Trung bộ kinh vẫn còn nguyên giá trị: “Khi đã đến lúc chết, không ai,
dầu là quyến thuộc hay bạn bè, có thể ngăn chặn điều này xảy ra. Của cải phải
để lại cho người thừa tự, còn người chết chỉ có thể mang theo nghiệp của mình”.
Không có của cải, tài sản nào có thể mang theo qua thế giới bên kia. Tiền bạc
không có nghĩa lý gì sau khi chết. Cái có thể được chấp nhận trong cuộc hành
trình vào tương lai trong luân hồi, sau khi chết là nghiệp của chính mình, cả
thiện và ác nghiệp. Chỉ có những hành động thiện giúp được chúng ta trong kiếp
lai sinh trong làn sóng dữ của luân hồi. Cả người giàu và nghèo, người khôn và
kẻ dại đều phải đối mặt với những thăng trầm của cuộc sống - những thành bại,
hạnh phúc và khổ đau. Kẻ dại thì vui mừng với sự thành công, đau khổ tràn đầy
với thất bại. Nhưng người trí thì không để những biến cố này lay động đến họ,
vì họ biết rằng đó là thế gian, và rằng tất cả đều vô thường. Do đó, trí tuệ là
vượt trội hơn tài sản vật chất vì nó giúp ta sống trong hạnh phúc, bình an
trong tâm và trong thế gian. Dầu tiền bạc, của cải vật chất có thể là quan
trọng khi chúng được sử dụng cho các mục đích cao cả. Nhưng cũng không nên quá
đề cao nó. Những giới hạn của nó đối với việc đạt được mục tiêu đi đến Niết bàn
của người Phật tử cũng cần phải được xét đến. Dầu ta có thừa nhận rằng tiền bạc
là vốn quý để cải thiện an sinh xã hội và tạo ra hoàn cảnh thuận tiện cho sự
phát triển tâm linh, nhưng ta cũng cần phải nhớ rằng, xét cho cùng, chính sự
trưởng thành về tâm linh và trí tuệ mới đưa ta đến việc đạt được Niết bàn.
Những
rủi ro
Người trí cũng biết rõ về những rủi ro của việc
giàu có. Người giàu có thường có khuynh hướng khoe khoang, đánh mất đức tính
khiêm cung cao quý. Ngoài ra, họ cũng có khuynh hướng phát triển tâm bám víu
mạnh mẽ vào những quyền lợi mà sự giàu có mang đến cho họ như quyền lực, vị
thế, được nể trọng và có thể hưởng thụ những tiện nghi vật chất. Hơn thế nữa,
một phần tài sản của họ cũng có thể bị đổ vào các hành vi bất thiện, trái với
giới luật của Đức Phật như là sử dụng chất gây say, các loại thuốc độc hại,
tham gia vào các hoạt động tình dục không chính đáng và cờ bạc. Ý thức được
những nhược điểm này của sự giàu có, người trí luôn giữ tâm tỉnh giác để đảm
bảo rằng sự giàu có không đưa họ vào con đường bất thiện. Trái lại, họ sử dụng
tài sản của mình cho những hoạt động thiện lành, hữu ích và hoằng dương Chánh
pháp để đem lại an ủi tâm linh cho người. Những lời dạy sau đây của Đức Phật
được ghi lại trong kinh Pháp Cú đã làm rõ hơn vấn đề này. “Tiền bạc chỉ
huỷ hoại kẻ ngu, chứ không phải người sống có mục đích”. Mục đích ở đây là Niết
bàn hay là sự giải thoát khỏi những khổ đau của luân hồi sinh tử, mà ta có thể
đạt được qua việc thực hành theo Bát chánh đạo của giới, định và tuệ. Người trí
sẽ không lạc bước khỏi con đường này chỉ vì sự giàu có của mình, mà sẽ sử dụng
tài sản cho sự phát triển tâm linh của bản thân và của người khác.
Sự đo
lường giá trị
Điều quan trọng cần ghi nhớ là Phật giáo không đo
lường giá trị của một cá nhân hay một quốc gia qua của cải vật chất. Phật giáo
cũng không bài bác sự tích lũy tài sản, coi đó là một hành vi xấu xa. Phật giáo
thực sự đo lường giá trị của tiền bạc qua những phương cách kiếm tiền và việc
chúng được sử dụng cho mục đích gì. Tiền bạc, của cải vật chất kiếm được bằng
những phương tiện chân chánh và được sử dụng cho những mục đích thiện lành sẽ
thực sự có giá trị.
Lời kết
Do đó, Phật giáo không kết án sự thừa kế, sự kiếm
tiền và tích lũy tài sản của người cư sĩ. Nếu tài sản được kiếm bằng những
phương tiện chân chánh, không làm hại đến người khác, và được dùng để hoàn
thành các bổn phận, cho những mục đích thiện lành, và người sở hữu không chất
chứa, bám víu vào những của cải đó, thì không có gì trái với đường lối sống
theo Phật giáo. Điều quan trọng là người trí cần phải ý thức đến những hậu quả
tai hại mà tiền bạc có thể đem đến, để cảnh giác, để đảm bảo là tài sản của
mình không hướng đến những hoạt động xấu ác làm hại bản thân và người khác.
Thông thường sự giàu có dễ đưa đến những hậu quả
bất thiện. Những lời dạy của Đức Phật với hoàng đế Pasenadi của Kosala được ghi
lại trong Tương ưng bộ kinh đáng để cho ta suy gẫm và khiến người giàu
có phải cảnh giác. “Thưa Đại vương! những người, có được tài sản lớn, mà không
bị chúng làm say đắm, không bị dẫn dắt đến sự vô tâm và sự hưởng thụ vô ý thức
gây tai hại cho người, rất hiếm hoi trên đời này”.
(Chuyển ngữ theo Buddhist Attitude Toward Wealth, www.buddhisttimes.net/2010-3-01)