|
NSGN - Mối quan hệ
thầy trò là một trong những mối quan hệ căn bản của con người có tầm ảnh hưởng
rộng lớn đến tri thức, tư tưởng, phẩm cách, đạo đức, v.v… và đặc biệt là trong
Phật giáo, mối quan hệ thầy trò mang đậm tính cách kế thừa về tâm linh, về sự
tu chứng, về đức hạnh, về hành Bồ tát đạo… Để trở thành người đệ tử của Phật, điều đầu tiên và
cần thiết là quy y Phật, Pháp, Tăng. Với sự nương tựa Tam bảo đầu tiên, thì
Phật là vị Thầy dẫn đường vĩ đại nhất đối với người đệ tử, mà kinh điển thường
gọi là vị đại Đạo sư, từ đây mối quan hệ thầy trò trong đạo được hình thành. |
Ngày nay, Đức Phật đã vắng bóng trên cuộc đời, trên
bước đường tu học theo lời di huấn của Ngài, người đệ tử Phật được sự dạy dỗ,
uốn nắn, giáo dưỡng của nhiều vị thầy như thầy truyền Tam quy Ngũ giới, thầy
thế phát xuất gia, thầy giáo thọ, thầy A xà lê, v.v… Tuy nhiên, trong các vị
thầy này, thì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn được hàng đệ tử tôn kính và ngưỡng
vọng như bậc thầy tối thượng, vì chính Đức Phật đã khai mở con đường cho mọi
người thoát khỏi kiếp trầm luân sanh tử luân hồi, đến bến bờ giác ngộ, giải
thoát trọn vẹn.
Theo Phật giáo, tri thức và đạo đức là hai điều cần
thiết tối ưu mà một người thầy nhất định phải có. Vì có tri thức thì mới truyền
trao tri thức cho người được và không phải chỉ có tri thức, điều quan trọng
không kém là tri thức của người thầy trong đạo phải đặt nền tảng trên đời sống
phạm hạnh. Thật vậy, theo kinh Cụ túc giới trong kinh Tăng chi,
tiêu chuẩn trước tiên của một bậc thầy là phải thể hiện được giới hạnh trong
cuộc sống của mình. Giới nói theo ngày nay là những nguyên tắc sống đạo đức căn
bản theo thế gian và siêu xuất thế gian được mọi người kính phục. Đức Phật là
bậc thầy điển hình vẹn toàn cả tri thức và đời sống thánh thiện tuyệt đối, cho
nên Ngài giáo hóa thành công một cách nhẹ nhàng mọi người từ vua chúa cho đến
hàng trưởng giả, hay thứ dân trong xã hội đương thời.
Chẳng những có tri thức và đạo đức, kinh điển ghi
rõ phẩm chất của người thầy còn thể hiện tuyệt đối lòng từ bi vô ngã vị tha
trong việc dạy dỗ, “Xem học trò như đứa con một của mình mà không cần sự trả
ơn, không vì tiếng tăm, không vì lợi dưỡng, cũng không cầu sự vui cho chính
mình” (Kinh Ưu bà tắc giới, phẩm 13, Thâu phục đệ tử, HT.Tịnh Nghiêm
dịch). Điều này cho thấy tính cách thiêng liêng của tình Thầy trò trong đạo
thật là cảm động.
Ngoài ra, để thành công trong việc dạy dỗ học trò,
người thầy còn phải biết rõ căn tánh, hành nghiệp và khả năng của học trò, tức
là biết rõ khả năng, tâm lý và động cơ phát xuất từ nội tâm của học trò. Điều
này tất nhiên không đơn giản, vì căn tánh, hành nghiệp và khả năng của mỗi
người học trò đều khác nhau. Và một khi đã hiểu rõ như vậy, thì người thầy sẽ
có phương cách giáo hóa tương ưng, để bảo vệ Chánh pháp. Khi Phật tại thế, có
một số người xấu ác len lỏi vào hàng cư sĩ tín tâm để chỉ trích, phá hoại sự
hòa hợp của chư Tăng. Đức Thế Tôn đã kiên quyết đuổi họ ra khỏi đoàn thể. (Theo
Đại tạng kinh Việt Nam, Tăng Chi Bộ IV, phẩm Niệm, phần Bình bát, VNCPHVN
ấn hành 1997, trang 55). Chẳng những dạy dỗ về tri thức và đạo đức, Đức Thế Tôn
còn chăm lo sức khỏe và đời sống vật
chất cho các Tỳ-kheo bệnh hoạn.
Cũng như người thầy có tri thức, người học trò
cũng phải gieo trồng và phát huy tri
thức của mình bằng cách đặt hết tâm trí vào việc học tập; vì đi theo con đường
Phật dạy thì trí tuệ là sự nghiệp của người tu. Chẳng những hiểu biết những gì
người đời biết, mà còn phải nỗ lực tiến xa hơn, hiểu biết những gì mà chỉ có
Thánh nhân và Phật biết.
Song song với việc mở mang trí tuệ, người học trò phải tiếp nối được nếp sống đạo hạnh
mà Phật và Thầy, Tổ đã thể hiện, nói lên tinh thần thừa kế chân chính là “Con
nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Thật vậy, khi ta có việc làm tương
ưng với vị thân giáo sư, thì người thầy mới thích thú và truyền trao những điều
sở trường để ta thừa kế tiếp sự nghiệp tinh thần mà cả một đời của thầy dày
công xây dựng. Đó là kinh nghiệm của tôi khi trình luận án tiến sĩ với Giáo sư
Viện trưởng Viện Đại học Rissho, Nhật Bản. Nhờ có mối quan hệ tri thức và tâm
linh với vị thân giáo sư này, cho nên ông đã chỉ dạy tôi một cách tường tận
phương hướng nghiên cứu và làm đạo sau này. Thầy trò có tâm đắc trong việc
truyền trao và tiếp thu như vậy, nên ông hy sinh cả thì giờ quý báu để dạy tôi
và còn dành cảm tình đặc biệt cho tôi vì đã tìm được người thừa kế được sự
nghiệp của ông. Thiết nghĩ đó là tâm lý tự nhiên của tất cả giáo sư dù là đạo
hay đời.
Tóm lại, mối
quan hệ thầy trò hoàn toàn tốt đẹp qua chính tấm gương giáo hóa ngời sáng của
Đức Phật và chư vị Thánh Tăng, chư vị Tổ sư còn lưu lại trong kinh điển đã nêu
rõ tính chất hoàn mỹ của sự giáo dục theo Phật giáo. Điều này chẳng những có
giá trị từ nghìn xưa mà cho đến ngày nay, nhất là trong thời hiện đại, mối quan
hệ thầy trò trong đạo nói riêng và sự giáo dục theo Phật giáo nói chung, hẳn sẽ
là đáp số vô cùng cần thiết cho những vụ việc phi đạo đức đang diễn ra như học
trò chửi mắng thầy cô, học trò đánh thầy cô trọng thương, hoặc giáo viên uống
rượu đánh nhau và những cảnh bạo lực trong học đường… đang gây nhiều bức xúc
trong xã hội chúng ta.
Thiết nghĩ cuộc
sống con người có vô số mối tương quan tương duyên, mà trong đó, mối quan hệ
thầy trò đóng vai trò quan trọng cho sự hình thành tư cách đạo đức và trí tuệ
cho mỗi người, từ đó xây dựng được sự học tập tốt đẹp ở học đường, xây dựng
được gia đình có nề nếp, hạnh phúc và tạo dựng được xã hội trật tự kỷ cương và
phát triển bền vững. Để đạt được thành quả như vậy, thì mối quan hệ thầy trò
theo Phật giáo là mô hình thực sự có giá trị đáng được quan tâm, học tập và làm
theo trong thời đại ngày nay.