05/09/2017 10:20 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Ngày Tự tứ

GN - Năm xưa, Tôn giả Mục-kiền-liên sau khi xuất gia tu học theo Phật đắc pháp lục thông, vì muốn biết mẹ mình sau khi chết đang ở đâu, nên Ngài dùng thiên nhãn tìm kiếm. Bấy giờ, Tôn giả thấy mẹ mình đang bị đọa trong đường ngạ quỷ, không được uống ăn nên thân thể héo gầy.

Thương mẹ, Tôn giả dùng thần lực đem cơm dâng mẹ, nhưng bi đát thay, mẹ Ngài, dù đọa lạc trong cảnh giới khổ đau mà lòng bỏn sẻn chưa dứt, nên bát cơm nhận được liền biến thành than lửa không ăn được!

Chẳng biết làm sao cứu mẹ, dù đã tu hành đắc đạo, Mục-kiền-liên bèn trở về xin Phật chỉ bày phương pháp. Phật dạy, muốn cứu mẹ phải cần đến nguồn năng lượng tươi mát từ bi hỷ xả của mười phương Tăng. Nguồn năng lượng ấy được tập hợp thành năng lực mạnh mẽ nhất là vào ngày chư Tăng ngồi lại với nhau để nói lên lời xin lỗi, xin người khác chỉ lỗi và tha lỗi cho nhau, để cùng nhau sách tấn tu học. Ngày ấy gọi là ngày Tăng Tự tứ.

Le Tu tu tai HVPG co so LMX (6).JPG
Chư tôn đức đối thú Thượng tọa Tự tứ ở Trường hạ Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM - Ảnh: Bảo Toàn

Tự tứ, tiếng Phạn là Pravāraṇā, Trung Hoa dịch âm là Bát-lợi-ba-lạt-noa, Bát-hòa-la, dịch ý là mãn túc, hỷ duyệt, tùy ý sự, chỉ cho sự thỉnh cầu người khác chỉ điểm những lỗi lầm, khuyết điểm của mình, được tiến hành vào ngày trăng tròn kết thúc ba tháng an cư mùa hạ, tức rằm tháng Bảy, theo âm lịch các nước Việt Nam, Trung Hoa. Sự chỉ điểm này được căn cứ trên ba trường hợp kiến, văn, nghi, tức do được thấy, được nghe và được nghi ngờ. Ngày ấy, chúng Tăng tập họp, từng vị một ra trước đại chúng cầu xin được đại chúng soi sáng, bằng cách chỉ cho mình thấy những lỗi lầm, những khuyết điểm, mà vì vô tình hay cố ý, mình đã sai phạm, nhưng do vô tri, không thể tự thấy biết. Sau khi đại chúng chỉ cho thấy rồi, thì thành tâm sám hối. Sám hối rồi thì sẽ được thanh tịnh. Tâm thanh tịnh tự nhiên phát sinh hoan hỷ, nên gọi là Tự tứ. Sau khi Tự tứ, vị Tỳ-kheo được thêm một tuổi giới, nên Tự tứ cũng gọi là thọ tuế, nhận thêm một tuổi đạo, mà ta thường gọi là hạ lạp.

Lễ Tự tứ rất quan trọng, chính Đức Thế Tôn cũng thực hiện nghi thức Tự tứ. Kinh Tăng nhất A-hàm, ghi: “Bấy giờ, đến ngày rằm tháng Bảy, Thế Tôn trải tòa ngồi giữa khoảng đất trống, các Tỳ-kheo trước sau vây quanh. Phật liền bảo A-nan hãy mau đánh kiền chùy, vì hôm nay rằm tháng Bảy là ngày thọ tuế. A-nan hỏi thọ tuế là thế nào? Phật dạy, thọ tuế là làm sạch ba nghiệp của thân, miệng, ý. Cứ mỗi 2 vị Tỳ-kheo đối diện với nhau mà tự trình bày nhược điểm, sai trái của bản thân mình, đồng thời tự xưng pháp danh của mình và nói rằng, hôm nay Tăng chúng thọ tuế, tôi cũng muốn thanh tịnh nên thọ tuế, xin tha thứ cho lỗi lầm của tôi. Tôn giả A-nan lại hỏi, việc này là pháp của chư Phật hay chỉ Đức Thế Tôn có? Đức Thế Tôn nói, quá khứ vị lai hằng sa chư Phật đều có, như Ta có ngày nay. Tôn giả A-nan hoan hỷ hết sức, tức thì lên giảng đường đánh kiền chùy mà nói, tôi đánh lên hiệu lệnh của Như Lai, đệ tử của Ngài xin tập họp lại! Tăng chúng tập họp cả rồi, Đức Thế Tôn nhìn mà nói, hôm nay Tôi thọ tuế: Tôi có lỗi với ai không? Thân, miệng, ý của Tôi có phạm lỗi gì không? Đức Thế Tôn nói đến 3 lần như vậy, rằng hôm nay Tôi muốn thọ tuế: Tôi có lỗi gì với Tăng chúng không? Tôn giả Xá-lợi-phất đứng dậy bạch Đức Thế Tôn: Tăng chúng quan sát Như Lai, không thấy có lỗi gì về thân, miệng, ý. Như Lai cũng không có lỗi gì với ai. Còn phần con, con xin hướng về Như Lai mà tự trình bày: Con có lỗi gì với Như Lai và Tăng chúng không? Đức Thế Tôn bảo, Xá-lợi-phất, Tôn giả không có hành động gì phi chánh pháp nơi thân, miệng, ý. Tôn giả Xá-lợi-phất lại thưa, bạch Đức Thế Tôn, tất cả Tỳ-kheo Tăng đây cũng muốn thọ tuế: Tất cả Tỳ-kheo Tăng đây có lỗi gì đối với Như Lai không? Đức Thế Tôn dạy, Không!”. 

Kinh Tạp A-hàm cũng ghi: “Hôm ấy ngày rằm, vào giờ Tự tứ, Thế Tôn trải tòa ngồi trước đại chúng, rồi bảo rằng, Ta là người mang thân sau cùng, đã đắc Bát-niết-bàn, như Đại y sư, có thể nhổ bạt những gai nhọn phiền não đã đâm vào chư vị. Quý thầy là những người con từ miệng Ta sinh ra, từ Pháp hóa sinh, được gia tài Pháp. Ta nay muốn Tự tứ, quý thầy hãy soi sáng cho Ta, chớ để cho thân, khẩu, ý của Ta có điều đáng hiềm trách. Lúc ấy Tôn giả Xá-lợi-phất ở giữa đại chúng đứng dậy, cung kính thưa rằng, bạch Thế Tôn, chúng con không thấy thân, khẩu và tâm ý của Thế Tôn có điều gì đáng hiềm trách. Nay đối trước Thế Tôn, xin chỉ cho con các tội được thấy, được nghe, được nghi, hoặc thân, khẩu, ý có điều gì đáng hiềm trách? Phật dạy, Ta không thấy ông có các tội được thấy, được nghe, được nghi và thân, khẩu, ý có điều gì đáng hiềm trách. Tôn giả Xá-lợi-phất lại thưa, nếu con không có các tội được thấy, được nghe, được nghi và thân, khẩu, ý có điều gì đáng hiềm trách; vậy thì năm trăm Tỳ-kheo này có không các tội được thấy, được nghe, được nghi và thân, khẩu, ý có điều gì đáng hiềm trách? Đức Phật bảo, đối với năm trăm Tỳ-kheo này, Ta cũng không thấy các tội được thấy, được nghe, được nghi và thân, khẩu, ý có điều gì đáng hiềm trách”.

Như chúng ta đều biết, Đức Phật có mười tám pháp đặc thù, gọi là Thập bát bất cộng pháp, trong đó có thân vô thất, tức là thân Như Lai không bao giờ có lỗi lầm, bởi từ vô lượng kiếp đến nay, Phật thường lấy giới, định, tuệ, từ bi… để tu tập trang nghiêm thân mình, tất cả mọi công đức đều viên mãn, tất cả mọi phiền não đều đã diệt hết. Miệng Như Lai cũng không có lỗi lầm (khẩu vô thất), nghĩa là, Phật có đầy đủ vô lượng trí tuệ biện tài, thuyết pháp tùy theo căn cơ của chúng sanh, khiến cho tất cả đều được chứng ngộ. Ý của Như Lai lại càng không có lỗi lầm (niệm vô thất), bởi Phật tu các thiền định thâm sâu, tâm không tán loạn, đối với các pháp tâm không còn vướng mắc, đắc an ổn đệ nhất nghĩa. Nói tóm lại là ba nghiệp thân, khẩu, ý của Như Lai không bao giờ có lỗi lầm. Thế nhưng, sau ba tháng an cư cùng với đại chúng, Đức Phật vẫn thực hiện nghi thức Tự tứ, vẫn tác bạch rằng: “Ta nay muốn Tự tứ, quý thầy hãy soi sáng cho Ta, chớ để cho thân, khẩu, ý của Ta có điều đáng hiềm trách”. Đây là một minh chứng sống động cho sự thân giáo nhiệm mầu của Đức Phật, đồng thời nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình nhằm mục đích thanh tịnh hóa đoàn thể tu học, mà pháp Tự tứ là cách thức để thể hiện tinh thần ấy.

Tứ phần luật hành sự sao, quyển thượng, giải thích: “Sau chín tuần tu học, tinh luyện thân tâm, cũng có người không tự thấy lỗi mình, vì vậy mới cầu xin đại chúng thương xót, từ bi chỉ lỗi cho mình, để mà sám hối. Một khi đã tự thấy lỗi của mình, hoặc được đại chúng chỉ cho thấy, thì bên trong không có gì che giấu, bên ngoài hiển rõ khuyết điểm, thân khẩu đều nhờ người khác, nên gọi là Tự tứ”.

Ngày Tự tứ, như vậy, là biểu hiện sự thanh tịnh và hòa hiệp của chư Tăng - yếu tố sống còn của Phật pháp - là ngày biểu hiện uy lực, sức mạnh của đại chúng. Uy lực ấy phát sinh từ uy đức, tức từ đời sống phạm hạnh thanh tịnh, từ sự nỗ lực hành trì giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến, là cái thế của sức mạnh tinh thần uy nghiêm, hay sức mạnh công đức rất uy nghiêm và khó lường. Uy lực, sức mạnh này là căn bản của năng lực cứu độ trong lễ Vu lan. Bởi chính uy lực hàm đủ chất lượng các công đức này mới có thể cứu khổ, mới diệt được nghiệp và nghiệp báo, hay nói cách khác chính uy lực này mới thắng nổi nghiệp lực.

Lễ Vu lan, như vậy, là nương nhờ thần lực hay sức mạnh tâm linh của ngày lễ Tự tứ, tức là ngày tha thứ giữa những người còn sống với nhau, là ngày mà mọi người biết cởi bỏ hận thù ràng buộc, biết buông bỏ lỗi lầm, biết lắng nghe và soi sáng cho nhau để sống vui an lạc. Còn có ngày hội nào vui hơn khi con người biết nhìn nhau trong tình thương, sự hiểu biết và sự cảm thông, tha thứ? Oan khiên có thể trở thành ân nghĩa. Ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân của trời đất, ân của đồng loại đã thắt chặt tình người qua bao nhiêu kiếp?

Vu lan, từ đó, là ngày hội cứu đảo huyền, ngày giải tỏa oan khiên treo ngược tội nhân trên rừng đao, biển lửa. Những tội nhân ấy biết đâu chừng là cha, là mẹ, là anh em… nhiều đời nhiều kiếp của chúng ta, những người đã tận tụy một đời vì miếng cơm, manh áo, lo toan vì hạnh phúc, tương lai cho con, cho cháu mà vất vả hy sinh, bất chấp mọi công việc, dù khó khăn, cơ cực đến đâu cũng cam chịu để lo cho con cháu lớn khôn thành người, để rồi khi về bên kia thế giới lại phải gánh chịu những nghiệp quả mà mình đã gây tạo. Rằm tháng Bảy là một thắng duyên, một cơ hội cho những người con tưởng nhớ đến công ơn sanh thành, dưỡng dục như trời cao, biển rộng của ông bà tổ tiên, thiết lễ Vu lan, cúng dường Tăng Tự tứ, nguyện nhờ thần lực Tam bảo nhiệm mầu mà hóa giải nghiệp chướng sâu dày khiến tổ tiên ông bà được siêu sanh thiện xứ. Thật là một lễ hội của tình người!

 Thích Nguyên Hùng

---------------

1 ĐTK/ĐCTT, t.2, tr.676, Tăng nhất A-hàm, phẩm Thiện tụ.

2 ĐTK/ĐCTT, t.2, tr.330, Tạp A-hàm, quyển 45.

3 ĐTC/ĐCTT, t.40, tr.42b.

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:

Ý kiến của bạn:

Vui lòng nhập vào Tiếng Việt có dấu:
Tên người gửi:(*)
Địa chỉ:
Email:(*)
Nội dung:(*)  
Gửi file đính kèm (mỗi file có kích thước tối đa 1MB):




  
Nhập vào mã:
 


    

Thông tin tòa soạn
Liên hệ tòa soạn
Giác Ngộ số 915
Nguyệt san Giác Ngộ
Thư mời TÂM LINH MẦU NHIỆM - trang Phật học
Sách Giác Ngộ, cụm Tư vấn
Đăng ký mua báo Giác Ngộ 2017 - Tư vấn
Liên hệ 1