Một hôm, có một vị sư già tuổi
đời khoảng 70 tuổi lên núi tu. Sư ghé lại hỏi thăm chùa. Sư có dáng người cao lớn,
đi đứng khoan thai nhẹ nhàng, đôi mắt rất sáng. Được hầu chuyện sư một buổi tối
thì chú Sa di sáng mắt và sáng lòng. Chú hỏi rằng: “Con nghe sư nói chuyện như
một bậc thầy có kinh nghiệm, chắc sư tu học lâu năm lắm đó?”. Sư đáp: “Sư mới
tu”. Chú Sa di thưa: “Sư nói sư mới tu con không dám tin đâu”. Sư bảo rằng: “Sư
mới tu lại”. Chú hỏi tiếp: “Có phải sư là người Việt gốc sư không?”. Sư cười và
đáp: “Đúng vậy”. Người Việt gốc sư là như một cụm từ riêng. Nó chỉ cho những vị
đã xuất gia mà trở về đời sống của người tại gia. Chú tò mò và thành thực hỏi
sư: “Sư ơi, xin sư đừng buồn thì con mới
dám hỏi”. Sư bảo rằng: “Chú có duyên gặp sư thì tùy ý hỏi, sư sẽ hoan hỉ trả lời”.
Chú buột miệng hỏi tiếp: “Sư về đời có kinh nghiệm gì mới lạ không, kể cho con
nghe với”. Sư mỉm cười bí ẩn với dáng vẻ chân tình, sửa lại tư thế ngồi và bắt
đầu kể chuyện cho chú nghe.
Câu chuyện về đêm giữa vị sư và chú Sa di vẫn
tiếp tục như lời dặn ân cần. Tuổi trẻ tu học thì phải nắm chắc pháp tu mới có
hiệu quả. Nếu không chú sẽ gặp chướng ngại như sư từng gặp hơn 30 năm về trước.
Chú nghe câu này càng chú ý hơn. Có nghĩa là sư đi tu khi chú chưa nằm trong bụng
mẹ. Sư kể với giọng trầm lặng hơn. Sư đã trải một khoảng thời gian của đời mình
để tìm hiểu pháp môn tu học con ạ. Thời đó chưa có trường lớp dạy giáo lý như
bây giờ. Những điều sư tu học được là từ sư phụ của mình. Khi sư phụ qua đời thì
cuộc đời sư thay đổi nhanh chóng. Lúc sư còn trẻ tuổi như chú. Sư tự mình quyết
định lên núi mà tu cho mau chứng quả. Sư đã từng uống nước, nhịn ăn tới 49 ngày
để ngồi thiền. Vì sư nghĩ rằng mình làm giống hệt như Phật ngồi cội Bồ đề để mau
chứng ngộ. Rất tiếc là sư không tự biết rằng: Mình không phải là thái tử Tất Đạt
Đa! Cho nên dù nhịn ăn tu thiền 49 ngày nhưng vẫn chưa chứng đắc như mong đợi.
Qua thời gian tu tinh tấn đó, tâm thức sư rất
an định. Thực sự, bản thân sư không biết mình chứng đến tầng định nào. Nhưng
tâm thức trở nên có vài tác dụng khác trước. Tâm lại đắm chìm trong sự thấy biết
vừa đạt được, nên có nhiều chướng ngại phát sinh. Tri thức và thực nghiệm là hai lĩnh vực bổ sung cho
nhau chứ không phải là một. Phật dạy : “ Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng,
thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng,
được người có trí chứng hiểu.”[1] Kinh Phật dạy thâm sâu khó
nghĩ bàn. Sư nghĩ, có những câu kinh đã
thuộc lòng lâu lắm vẫn chưa chiêm nghiệm hết ý nghĩa. Với một câu mà chưa thấu
triệt thì cả bài kinh còn khó hơn nhiều. Cần có khả năng tu học nghiêm túc mới
thấu rõ nghĩa lý vi diệu trong đó.
Sau này, sư mới biết rằng dấu hiệu thấy
biết ban đầu đó là thành quả của sự định tâm. Nó chưa phải là tác dụng của tuệ
giải thoát theo tinh thần Phật dạy. Bản chất sự tu tập có hiệu quả thì hai yếu
tố Định và Tuệ phải quân bình. Khi mình mất chánh niệm thì bị tri giác sai lầm
đánh lừa. Đánh lừa như thế nào? Đánh lừa trong giấc ngủ, đánh lừa trong ý niệm
chứng thần thông và nhiều vấn đề khác nữa. Trong lúc ngủ sư thường có giấc mơ
đúng với sự kiện sẽ xảy ra sau đó. Sư cho đó là biểu hiện tiến bộ của sự tu học
tinh tấn. Nên đam mê những điềm báo trong giấc mơ là kì diệu. Về sau, các giấc
mơ đó không còn chính xác nữa, sư vẫn là sư như trước.
Còn nữa, ý niệm mình có thần thông bắt đầu
len lỏi trong tâm thức sư. Những người bị cõi âm dựa hay bị tà ma họ rất sợ sư.
Đôi lúc người nào đó dự định đến thăm, sư biết mình sắp có khách và hình dung được
về hình ảnh người đó. Trạng thái định tâm có nhiều năng lực khác nữa. Như một
bóng đèn bỏ trên bàn, sư từ đằng xa có thể làm nó di động. Sư có thể làm tắt ngọn
đèn trong nhà bằng ý tưởng của mình. Lúc bấy giờ, một vài huynh đệ chưa đủ kinh
nghiệm tu học thán phục và xem sư như một bậc thầy gương mẫu. Có nhiều bổn đạo hiếu
kì, tỏ lòng thành kính và rất ngưỡng mộ sư. Dần dần bà con xa gần xôn xao tìm về
chổ sư nghe pháp. Lúc ấy, sư bận bịu suốt ngày với tín đồ qua lại.
Đáng tiếc thay, năng lực của sư đó chỉ
là tác dụng của sự định tâm thôi con ạ. Đó không phải là bản chất của tuệ giải
thoát. Vì tuệ là khả năng chánh niệm và quán chiếu về thân và tâm xả li phiền
não, tâm giải thoát tự tại. Tất cả công phu tu tập của sư lúc đó hướng về một nẽo
khác. Do thiếu tỉnh giác nên bao nhiêu sự thấy biết chỉ nuôi lớn cái tôi của bản
thân. Lúc đầu cái tôi đó biểu hiện yếu ớt. Về sau, chúng mạnh mẽ như dòng thác
lũ che lấp tâm trí mình. Sư có cảm giác
mệt mõi vì không tìm thấy sự thanh thản như ngày đầu tu học. Nhưng sư vẫn chưa
nhận ra những gì mới mẽ hơn trong vấn đề tu tập.
Hồi đó, sư chưa thông đạt kinh giáo như
hôm nay, nhưng mà sư ưa sống một mình. Do đó, cánh cửa tiếp xúc kinh nghiệm với
người có trí tu học bị đóng lại. Người ta bảo rằng: “Ăn cơm có canh tu hành có
bạn”. Điều đó nhắc nhở mình khi chưa trưởng thành thì phải biết nương vào hội
chúng mà tu học thì mới an ổn. Nếu khi không biết rõ giáo lý mà tu tập thật là
uổng phí năng lực. Được học chánh pháp,
được gần gủi các bậc thiện tri thức trong đời đó là khó. Kinh nghiệm từ sư, tuổi trẻ như chú nên cần học tập
nhiều nữa. Hiểu rõ giáo lý sau đó tu mới có kết quả nhanh chống. Dù thiền học
hay tịnh độ cũng cần học cho rõ ràng.
Giáo lý Phật dạy là con đường của giới,
định và tuệ. Con phải khéo lắng nghe và khéo vận dụng. Con từ bỏ tất cả những
gì tuổi trẻ cần phải học thì nên suy nghĩ lại. Những lúc bế tắc trong vấn đề tu
học thì thật đáng tiếc. Nhiều tình huống khác xảy ra sẽ làm tâm trí con luẩn quẫn
trong đường tu. Trong giới
luật xuất gia có dạy: “Phật quy định, người xuất gia 5 hạ về trước phải
chuyên học và tinh tường về giới luật, 5 hạ về sau mới học hỏi giáo lý, tham cứu
thiền học”[2]. Đó là kinh
nghiệm rất bổ ích con ạ.
Sư kể tiếp, trong thời buổi chiến tranh
dân tình ly tán. Chùa chiền vắng người qua lại. Với một nhân duyên vô cùng đặc
biệt, sư trở về đời sống tại gia. Từ kinh nghiệm những chướng ngại lúc tu học của
bản thân. Sư càng nghiên cứu giáo pháp Phật dạy một cách tinh tấn. Sư âm thầm
thực hành thiền quán trong hình thức người cư sĩ. Sư đã nhận thức trạng thái
thiền tập khá rõ ràng. Sư học giáo lý Tịnh độ một cách tường tận. Sư thường đến
chỗ thanh vắng tham thiền. Khi tâm vào định và cảm nhận nhiều trạng thái khác
phức tạp. Sư trở lại nhất tâm niệm Phật để vượt qua trong an tịnh. Sư không khẳng
định mình chứng thiền hay đắc niệm Phật tam muội. Có điều sư nhận thấy khác trước.
Từ bản chất tâm mà luận, Thiền và niệm Phật gặp nhau một điểm con ạ. Con nhớ điều
này, sư không diễn tả hết được. Và sư nguyện rằng: “Trong một quá trình tu tập
đời mình, nếu chưa chứng quả, sư nguyện sanh về cảnh Cực lạc”.
Chú Sa di ngạc nhiên vô cùng và hỏi rằng:
“Sư nói chuyện lạ lắm, Sao lâu nay con thấy nhiều người tu thiền ít niệm Phật.
Họ chỉ cầu chứng đắc thiền, hay khai ngộ tâm tánh mà thôi?”. Sư đáp: “Trước đây
sư cũng nghĩ như vậy, nhưng quá trình quán tâm sư mới ngộ ra tầm vóc cao siêu của
giáo lý tịnh độ!” Nhưng con phải hiểu lý rốt ráo của chữ Tâm niệm Phật trong
giáo lý Tịnh độ. Tâm ấy là pháp giới, pháp giới chính là tâm, chứ không phải
cái tâm thông thường. Cho nên Phật dạy: “Pháp
giới là một thể, nhập vào pháp giới, gọi là nhất hạnh tam muội. Nếu có người
nam, người nữ nào muốn nhập vào pháp nhất hạnh tam muội, nên khéo nghe pháp Bát
nhã ba la mật, như pháp mà tu hành, sẽ nhập vào pháp nhất hạnh tam muội. Như
tâm duyên quán pháp giới, bất thối, bất hoại, không nghĩ bàn, không chướng ngại,
không tướng trạng”[3]. Nhất hạnh
tam muội là kết quả của niệm Phật. Tam muội là chánh định, niệm Phật là pháp môn
trí tuệ : “Nếu có người niệm Phật, nên biết người này cùng
với Văn Thù Sư Lợi không khác”.[4] Văn thù là biểu trưng cho
trí tuệ Phật. Chân nghĩa của giáo lý Tịnh độ là như vậy.
Phật dạy không hề hư vọng, do chúng ta chưa
hiểu tường tận nên phân biệt mà thôi. Sau đó, sư niệm Phật và quán
tưởng về tâm và cảnh theo tinh thần Niệm Phật Tam muội. Nhân duyên đó, sư thấy
mình gần Phật A Di Đà. Vì Phật A Di Đà là Vô Lượng Thọ, là Vô Lượng Quang. Vô Lượng
Thọ là siêu việt thời gian, Vô Lượng Quang là siêu việt không gian. A Di Đà cũng
là pháp giới tánh vô sai biệt. Sư vận dụng giáo lý như thế mà niệm Phật con ạ. Hơn thế nữa, sư tin rằng, một vị Phật phát
nguyện tiếp độ chúng sanh về cảnh giới Tây phương Cực lạc. Thế giới đó có từ bản
nguyện giáo dục của Phật. Chúng sanh mọi
trình độ được vãng sanh thì không còn đọa lạc lục đạo luân hồi. Đó là lý do vì
sao chúng ta phát nguyện vãng sanh.
Sư nói thêm rằng, sau này con sẽ tiếp
xúc giáo lý Thiền và Tịnh với nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng con phải biết lựa
chọn, tham cứu, lắng nghe và học hỏi. Phật dạy có tám vạn bốn ngàn pháp môn.
Nhưng phải chọn cho mình một pháp môn mà tu. Phương pháp này sư đã chiêm nghiệm
hơn mấy chục năm trời. Sư thực hành với niềm tin đó và nhận thấy tiến bộ tâm
linh. Sư đã phát nguyện trở lại với tư cách một vị Tăng để thực hiện cái chí
nguyện đầu đời của mình. Sư sẽ sống đời xuất gia trong khoảng thời gian còn lại.
Sư rất mong chia sẻ những kinh nghiệm tu học của mình cho mọi người. Con cũng
nên như vậy nhé! Chuyện là như thế, mục đích sư kể ra là muốn khuyên con một điều
khác nữa.
Con phải nhớ, niệm Phật là phương pháp
an toàn. Con phải am tường giáo lý niệm Phật Tam muội để dụng công mới có lợi
ích lớn. Ngoài ra, phải học cho kỹ giáo lý quán niệm của Phật dạy. Như giáo lý
tứ niệm xứ và các kinh nghiệm của tổ sư thiền. Con cần phải tiếp nhận tinh hoa
các pháp môn để biết thêm. Sau đó dụng
công tu tập với phương pháp thích hợp với lòng không nghi ngờ. Những tri thức
đó là phương tiện hữu ích. Phải học pháp môn tu y từ kinh điển và các bậc thầy
đi trước.
Con nên ghi nhớ, chỉ chúng ta quay lưng với Phật
và Bồ tát chứ các Ngài không bỏ chúng ta. Con phải tư duy giáo lý nhân quả,
thành kính với Tam bảo trong mọi lúc thăng trầm. Từ giáo pháp của Phật, con sẽ
đối diện với tâm của mình. Đừng quên nỗ lực sám hối và phát nguyện cao thượng
hướng về giải thoát sanh tử. Con phải biết nhận diện tâm mình thông qua sự tu học
bản thân. Sư không thể nói hết và chẳng bao giờ nói hết được, con phải khắc cốt
ghi tâm những điều trên.
Chú Sa di nghe xong những lời đó với
thái độ trân trọng. Chú nghiệm ra lời dạy giản dị trước đây : “Tu không học là
tu mù, học không tu là đãy đựng sách”. Đó là kinh nghiệm từ các bậc thầy muốn
nhắn lại cho mọi người đang thực hành chánh pháp. Tinh thần đó rất phù hợp với
những lời dạy của Phật trong kinh điển. Sự mong muốn tu tập mau chứng ngộ là yếu
tố giúp chúng ta nỗ lực tin tấn. Nhưng nếu không hiểu rõ phương pháp thực hành
thì sẽ có nhiều chướng ngại. Muốn trở thành một hành giả tu tập, điều đầu tiên
phải học Phật pháp. Nhận thức và thể nghiệm chân lý là nội dung của con đường
thoát khổ. Con đường đó, ai muốn đi thì trước hết phải mở lòng lắng nghe giáo
pháp của Phật dạy./.
Thích Đức Trí
(Trích “Đi tìm Phật”)
[1] Trung bộ I, Kinh Ví Dụ Tấm vải (số 7),
HT. Thích Minh Châu dịch
[2] Sa
di luật nghi, Thiên giới luật môn, HT. Thích
Trí Quang dịch
[3]
Tri Giả đại Sư, Ngũ phương tiện niệm Phật,Thích
Đức Trí dịch
[4]
Tri Giả đại Sư, Ngũ phương tiện niệm Phật,Thích
Đức Trí dịch