GN - Du nhập
vào vùng đất Tây Nguyên đại ngàn, Phật giáo Đắk Lắk đã thể hiện sự phát triển
nhẹ nhàng và hài hòa trong suốt hơn một thế kỷ qua.
Khơi nguồn đạo pháp
Khó có
thể xác định tiến trình Phật giáo du nhập Tây Nguyên nói chung Đắk Lắk nói riêng
rõ ràng về mặt thời gian. Chỉ biết rằng, vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế
kỉ XX theo những dòng di dân của người Kinh, Phật giáo truyền vào Tây Nguyên và
Đắk Lắk là một trong những địa phương đầu tiên tiếp nhận. Biểu hiện đầu tiên là
việc tạo dựng các cơ sở thờ tự để nương tựa về mặt tâm linh nơi rừng thiêng
nước độc. Do vậy, trong bản đồ người Pháp đã thấy xuất hiện một số ngôi chùa và
những tụ điểm sinh hoạt Phật giáo khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 1905.
.JPG)
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan thăm và tặng quà Phật giáo tỉnh Đắk Lắk
.JPG)
Từ đầu
thế kỷ XX, theo bước chân của lưu dân di cư, chư Tăng từ miền xuôi cũng bắt đầu
lên Đắk Lắk hành đạo, hỗ trợ đời sống tinh thần, tính ngưỡng. Đến những năm
trước 1945, khi vua Bảo Đại thực hiện những chuyến công du lên Buôn Ma Thuột,
Phật giáo đã có dấu hiệu lan tỏa bởi những đóng góp của hoàng thái hậu Từ Cung
và bà thứ phi Mộng Điệp khi lập nơi thờ Phật và tụng niệm ngay hồ Lắk.
Vào năm
1949, số động Phật tử người kinh đã qui tụ và xây dựng 4 căn nhà ở đường Quang
Trung (TP.Buôn Ma Thuột) làm nơi thời Phật để lễ bái dưới sự hướng dẫn của
Thiền sư Trí Nhiễm (pháp hiệu Thiện Minh).
Đến năm
1950, với 10 ngàn dân Đắk Lắk, tín đồ Phật giáo đã chiếm 65%, phần còn lại là Thiên
Chúa giáo 20% và các tôn giáo khác của người dân tộc. Lúc này, Phật giáo dường
như được lang truyền khắp Đắk Lắk với nhiều tụ điểm sinh hoạt tín ngưỡng. Tuy
vậy, vẫn chưa có một cơ sở thờ tự tầm cỡ, làm nơi lễ bái chính thống thật sự
cho người dân vì thực dân Pháp ra sức chèn ép, không muốn Phật giáo phát triển.
Trước
tình thế ấy, Phật tử địa phương phải nhờ đến người trong hoàng tộc. Với những
nổ lực và thông qua sự giúp đỡ của bà Mộng Điệp cũng như Đoan Huy hoàng thái
hậu một ngôi chùa theo phong cách Huế đươc hình thành trên khu đất trên 7ha do cụ
Bùi Huy (anh ruột bà Bùi Mộng Điệp) hiến cúng, lấy tên là Khải Đoan và cũng là
ngôi chùa đầu tiên ở Đắk Lắk. Năm 1953, sau khi xây dựng xong nhà Tổ chùa Khải
Đoan, Giáo hội Phật giáo Trung phần đã bổ nhiệm ĐĐ.Thích Đức Thiệu đảm nhiệm
trụ trì chùa. Từ đó, Khải Đoan trở thanh trung tâm sinh hòa tu học của Phật
giáo Đắk Lắk.
Từ sau
năm 1951, Phật giáo Đắk Lắk thể hiện sự phát triển vượt bậc khi nhiều cơ sở thờ
tự của nhiều hệ phái được xây dựng, tổ chức Gia đình Phật tử được hình thành và
nhân rộng, các cơ sở giáo dục và từ thiện xã hội Phật giáo ra đời… Năm 1963,
cùng cả nước, Phật giáo Đắk Lắk đi vào khúc quanh lịch sử đau thương nhưng hào
hùng khi dấn thân đấu tranh bảo vệ Phật giáo trước sự kỳ thị của chế độ Ngô
Đình Diệm, trong đó ngọn lửa Thích Quảng Hương là một trong những biểu tượng.
Sau khi
nước nhà thống nhất, Phật giáo Đắk Lắk dù hết sức nổ lực nhưng mãi đến 1986 mới
thành lập được Ban Trị sự do thiếu chư Tăng Ni. Lúc này toàn tỉnh chỉ có 6 vị
Tăng Ni trong khi số lượng cơ sở tự viện và Phật tử bắt đầu đông đảo. Tuy vậy
dưới sự dẫn dắt của TT. Thích Quang Huy, Trụ trì chùa Khải Đoan đồng thời là
Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội nhiệm kỳ I (1986 - 1991), Phật giáo Đắk Lắk dần kiện
toàn nhiều mặt trong tình hình mới, thành lập được 3 Huyện hội Krông Pach,
Krông Buk (Buôn Hồ) và Cư M’gar, chủ yếu do cư sĩ đảm nhiệm.
Thời gian
của 3 nhiệm kỳ (1992 – 2007) sau đó của Phật giáo Đắk Lắk là cả một quá trình
tiếp nhận Tăng Ni, củng cố tổ chức Giáo hội để đưa Phật giáo tỉnh nhà đi vào
quỷ đạo chung của Phật giáo cả nước.
Dấu ấn của sự phát triển
Tiếp nối
tinh thần xây dựng và đóng góp và sự nhiệp chung của các bậc tiền nhân, có thể
nói nhiệm kỳ V (2007 - 2012) của Phật giáo Đắk Lắk là một nhiệm kỳ khởi sắc.
Theo TT.Thích Châu Quang, Ủy viên HĐTS, Trưởng ban
Trị sự Phật giáo tỉnh Đắk Lắk, ngay từ đầu nhiệm kỳ V (2007- 2012), xác định những nhu cầu cấp bách
của Phật giáo tỉnh nhà, Tỉnh hội đã đưa chủ trương chiêu một nhân tài. Nhờ vậy,
chư Tăng Ni trong tỉnh và các tỉnh bạn đã tốt nghiệp các cấp Phật học, phát tâm
về Đắk Lắk phục vụ đã được Thường trực BTS tạo điều kiện, bổ nhiệm trụ trì các
tự viện điểu hành Phật sự tại cơ sở, tạo nên một sinh khí mới trong việc tu học
của quần chúng Phật tử địa phương nhất là những vùng xa vùng sâu, làm tiền đề
cho sự phát triển Phật giáo tỉnh nhà. Nếu đầu nhiệm kỳ IV, toàn tỉnh chỉ có 186
vị Tăng Ni thì đến nay con số này đã là 375 vị.
.JPG)
Đại lễ cầu siêu – Một trong những hoạt động Phật sự gắn bó giữa đạo và đời do
PG Đắk Lắk tổ chức
Bên
cạnh nhiệm vụ phát triển đạo tràng hướng dẫn Phật tử
tu tập, xương minh chánh pháp thì việc phát triển, xây dựng và trùng tu tự viện
cũng là Phật sự mà Phật giáo toàn tỉnh quan tâm. Trong nhiệm kỳ V, Thường trực
BTS đã trình công văn xin phép xây dựng 34 tự viện. Đến nay có 9 tự viện đã
hoàn thành và đưa vào sinh hoạt. Song song, Ban Trị sự cũng khẩn trương lập thủ
tục xin thành lập đơn vị cơ sở mới, tiếp nhận
cho nhiều tịnh thất gia nhập để được chính thức sinh hoạt trong
lòng Giáo hội. Đặc biệt, Thường trực BTS đã làm việc với UBND
xã Ea Lê - UBND, Phòng Nội vụ và huyện Ea Súp để xin phép thành lập đơn vị Phật
giáo cơ sở đầu tiên của huyện tại xã Ea Lê (huyện chưa có đơn vị Phật giáo) và đến nay đang chờ kết quả.
Nhờ
những việc làm thiết thực đó, tổng số tự viện trong toàn tỉnh đã tăng lên đáng
kể. Trong nhiệm kỳ IV, tự viện chính thức sinh hoạt có 82 đơn vị. Đến hết nhiệm
kỳ V, Thường trực BTS đã ban hành Quyết định công nhận các đơn vị và BĐD cơ sở
được chính thức sinh hoạt gồm có 40 đơn vị, nâng tổng số tự viện chính thức
sinh hoạt là 122 đơn vị. Hiện còn 40 đơn vị chưa được cộng nhân chính thức.
Ngoài ra, để nâng cao năng lực trong tổ chức Giáo hội, Tỉnh hội cũng mở Khoá
Bồi dưỡng hành chánh Giáo hội vào năm 2008 dành cho thành viên Ban trị sự, các
ban ngành trực thuộc; chư Tăng Ni trụ trì các cơ sở tự viện; Ban đại diện các
cơ sở trong tỉnh, với 250 đại biểu tham dự.
Là một tỉnh tập trung nhiều văn nghệ sĩ Phật giáo, công tác văn hóa cũng
được Tỉnh hội chú trọng. Biểu hiện cụ thể qua việc sau
Đại hội nhiệm kỳ V, Ban Văn hóa là một trong bốn ban chuyên ngành được hình
thành, bắt tay thực hiện nhiệm vụ: Tham dự khóa bồi dưỡng
kiến thức hoạt động văn hóa do Ban Văn hóa Trung ương tổ chức; khoá tập
huấn nghiệp vụ viết báo ngắn ngày do báo Giác ngộ tổ chức; lập hồ sơ xin công nhận chùa Sắc tứ Khải Đoan là di tích
Văn hóa lịch sử Phật giáo tại tỉnh Đắk Lắk; lập tờ trình gởi UBND tỉnh và
TP.Buôn Ma Thuột xin đặt tên đường Thích Quảng Hương - vị danh Tăng của Phật
giáo Đắk Lắk đã có công với Đạo pháp và Dân tộc (đến nay vẫn chưa nhận phản
hồi); vận động trên 90% cơ sở tự viện lập tủ kinh sách và thư viện; phiên dịch
và xuất bản 02 đầu sách “Lịch sử Đức Phật Thích Ca và giáo pháp của Ngài”
và “Nghi thức tụng niệm” bằng song ngữ Việt-Ê Đê, số lượng ấn hành 8.000
cuốn; tiếp tục ấn hành nội san Vô Ưu với 84.700 bản…
“Những kết quả đạt được tuy khiêm tốn nhưng là sự nỗ lực lớn
của Tăng Ni, Phật tử tỉnh nhà. Đây sẽ là động lực để Phật giáo tỉnh tiếp tục
tiến xa hơn trong nhiệm kỳ mới”, TT. Thích Châu Quang nhìn nhận.
|
Tỉnh
Đắk Lắk nằm trên địa bàn Tây Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía
Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa,
phia Tây giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Đăk
Nông, với 1.728.380 người gồm 44 dân tộc cùng sinh sống.
Toàn
tỉnh có 162 cơ sở tự viện với 375 vị Tăng Ni thường trú và tạm trú; 62 đợn vị Gia đình
Phật tử với 514 huynh trưởng và 3.226
đoàn sinh. Nhiệm kỳ qua, Phật giáo tỉnh đã công nhận 40 đơn vị tự viện và Ban
đại diện cơ sở được chính thức; bổ nhiệm 55 Tăng Ni
đảm nhiệm trụ trì; giới thiệu 158 vị Tăng Ni theo học các cấp Phật học và thế
học; đăng cai khóa khoá Bồi dưỡng Hoằng pháp cho các tỉnh Tây Nguyên và miền
Trung; tổ chức trọng thể các Đại lễ Phật Đản, Vu Lan; mở hàng chục khóa huấn
luyện huynh, trưởng đoàn sinh Gia đình Phật tử các cấp; thực hiện công tác từ
thiện xã hội đạt 23.5 tỷ đồng. |