Tuy vậy, cô cảm thấy không được
tự nhiên lắm với bà. Nhà bà và nhà cô chỉ cách nhau một hàng rào trắc bá diệp
nhưng khoảng cách giữa tâm hồn bà và tâm hồn cô còn hơn cả hàng cây xanh tươi
đó. Hay tại bà già quá, mặt bà nhăn nheo quá làm cô sợ? Cô bé hỏi tuổi bà, bà
cười nói bà sống lâu thật lâu rồi nên không còn để ý đến tuổi tác nữa, bà chỉ
biết bà đã sống gần cả thế kỷ.

Ảnh minh họa
Cô bé không tưởng tượng được khoảng cách thời
gian giữa tuổi mười hai của cô và tuổi thế kỷ của bà nhưng cô đoán chắc là dài
lắm. Khi cô bé kể chuyện cho mẹ cô nghe và nói về cảm tưởng của cô đối với bà,
mẹ cô mỉm cười: “Đó là điều dĩ nhiên, con mới quen bà mà”. Mẹ cô khuyên cô
không nên gượng ép, cứ ân cần, lễ phép với bà như với tất cả những người già cô
gặp, từ từ cô hiểu bà hơn, lúc đó tình thương có thể sẽ đến.
Mẹ cô nói: “Có
hiểu mới có thương”. Cô bé thắc mắc tại sao con cháu bà bỏ bà sống một mình, mẹ
cô giải thích cho cô nghe về sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây, xã hội
Tây phương văn minh, giàu có, tiến bộ về khoa học kỹ thuật nhưng những người
già rất cô đơn, phải sống một mình hoặc trong những nhà dưỡng lão không có hơi ấm
của tình người. Cô bé nhớ ra mỗi lần đi dạo trong công viên vào những ngày nắng
đẹp, cô thường thấy những người già ngồi cô đơn nơi ghế đá, thẫn thờ nhìn người
qua lại. “Như vậy họ có cảm tưởng là họ vẫn còn sống trong xã hội loài người,
vẫn còn người chung quanh họ, họ chưa ở trong một thế giới chết”, mẹ cô giải
thích. Cô bé hơi cảm động, cô tự hứa sẽ để ý đến bà lão bên cạnh nhà nhiều hơn.
Cô bé nói với bà lão: “Mẹ cháu
bảo là trước khi gặp mẹ cháu, cháu đã sống nhiều kiếp trước rồi, có thể bà và
cháu đã gặp nhau trong một kiếp nào đó, có thể bà đã từng là bà ngoại của
cháu”. Câu nói này làm bà lão vui, mắt bà sáng lên: “Cháu nghĩ như vậy thật là
hay”. “Đó là lời dạy của Đức Phật”, cô bé trả lời.
Một buổi sáng sớm mùa đông, đang ngồi uống sữa
trong nhà, cô bé nghe tiếng chuông reo, thúc giục, cấp bách. Mẹ cô mở cửa, quay
lại nói vội với cô: “Bà ngoại ở bên nhà!”. Một con chim nhỏ bị thương nơi
cánh và chân rơi xuống vườn nhà bà, bà hỏi mẹ cô có biết săn sóc vết thương cho
chim hay không. Mẹ cô và cô đem bông băng sang, con chim thật đáng thương, dù
đang đau đớn, nó vẫn cố gắng lùi lại khi thấy người đến gần. Thương xót, cô bé
nhẹ nhàng ôm chim lên, thì thầm: “Chim đừng sợ, đừng sợ”.
Đem chim vào nhà, cô
bé hồi hộp theo dõi từng cử động của mẹ. Như hiểu nỗi lo lắng của cô, mẹ cô
trấn an: “Chắc là chim bị những chim khác lớn hơn đánh cắn, chỉ vài ngày là
chim sẽ lành, có thể sẽ bay lại được”. Cô bé mừng rỡ giúp bà lão đốt lò sưởi,
chim ngoan ngoãn nằm cạnh ngọn lửa bắt đầu bén, được chăm sóc, chim không còn
sợ hãi nữa. Lần đầu tiên từ ngày quen biết bà, cô bé muốn ở lại nhà bà lâu hơn.
Mỗi buổi chiều, sau khi làm bài
xong, cô bé xin phép mẹ qua nhà bà lão giúp bà nuôi chim. Bà dạy cô dùng hai
ngón tay mở nhẹ chiếc mỏ xinh xắn, đút vào từng mẩu bánh mì mềm nhúng sữa, bà
cũng chỉ cô dùng ống chích bơm từng giọt nước vào miệng chim. Vài ngày sau,
chim bắt đầu đứng lên được và có thể tự ăn những hạt ngũ cốc một mình. Chim rất
háu ăn, bà lão và cô bé thích thú theo dõi sự hồi phục của chim, mẹ cô thường
thấy cô ngồi xổm dưới chân bà chơi đùa với chim, thỉnh thoảng cô ngẩng đầu lên
nói một điều gì đó, bà nhìn cô mỉm cười, mắt rạng rỡ. Cô bé không còn sợ nét
mặt nhăn nheo của bà lão, cô chỉ thấy tấm lòng nhân hậu của bà. Cánh chim non
trở thành nhịp cầu nối liền hai trái tim xa lạ.
Vết thương nơi cánh của chim đã
lành nhưng chim không còn sử dụng chiếc chân bị thương được nữa. Khi chim bắt
đầu biết nhảy đi bằng một chân, bà lão đem chim trở lại vườn, bà giải thích dù
chỉ còn một chân, chim vẫn có thể bay được. Chỉ mới nghĩ đến chuyện chim sẽ bay
đi mất, cô bé đã muốn khóc rồi. Bà lão nói với cô nhà của chim là trời xanh vô
tận, niềm vui của chim là sự tự do, đừng vì tình thương ích kỷ của mình mà giam
chim trong căn phòng nhỏ bé. Mẹ cô cũng nói Phật dạy yêu thương mà chỉ nghĩ đến
hạnh phúc của mình, quên đi niềm vui của người, ràng buộc làm họ mất tự do thì
đó không phải là tình thương đích thực.
Ngày chim
bay mất, cô bé ôm chầm lấy bà khóc, cô nức nở gọi: “Bà ngoại!”, tiếng gọi từ
trái tim, bà lão cũng chảy nước mắt rồi dẫn cô vào nhà. Khi cô đã nguôi ngoai,
bà đưa cô về, đến cổng rào, cô buột miệng nói: “Mai cháu lại đến bà nhé!”.
Những ngày êm đềm với bà cứ thế
mà qua nhanh, có khi bà bệnh, mẹ cô và cô chăm sóc bà, sau khi cho bà uống
thuốc, mẹ cô về để hai bà cháu ở lại với nhau. Sợ bà buồn, cô bé đem những sách
truyện cổ tích của cô đọc cho bà nghe, rồi hẹn bà ngày hôm sau sẽ đến kể tiếp.
Bà lão có niềm hy vọng, có sự chờ đợi, mỗi lần cô đến, trái tim bà rung động
theo từng âm thanh của bước chân cô, tiếng động của nắm cửa khe khẽ mở, rồi bàn
tay nhỏ bé nắm lấy bàn tay bà, có khi cô bé tinh nghịch đếm xem có bao nhiêu
vết tàn nhang trên đó. Bà lão cảm thấy hạnh phúc được nghe lại, vào tuổi già,
những chuyện cổ tích của thời thơ ấu. Khi cô về, lòng bà bình an, giấc ngủ đến
với bà nhanh và thanh thoát.
Mùa đông dài lê thê rồi cũng qua
đi, những đóa hoa xuyên tuyết trắng tinh bắt đầu xuất hiện, vài nụ thủy tiên
dịu dàng hé cánh báo hiệu mùa xuân đến. Cảnh vật linh động hẳn lên, sức sống
tiềm tàng trong chồi non, lộc biếc, tiếng hót của các loài chim như ríu rít
hơn, trong sáng hơn chào đón mùa tuôn dậy. Cánh chim ngày cũ vẫn không quay về
nhưng cô bé không còn buồn nữa. Một buổi chiều đến thăm bà, cô kêu lên kinh
ngạc khi nhìn thảm cỏ trước nhà nở đầy hoa bồ công anh vàng rực. “Đây là những
hoa dại, thường người ta nhổ bỏ ngay khi chúng vừa mọc, bà không làm nổi nên
chúng tự do sinh sôi nảy nở, bây giờ nhiều thế này vào mùa xuân hoa nở trông
cũng đẹp”.
Cô bé rất thích ngồi chơi trên thảm cỏ hoa vàng này và lần nào bà lão
cũng hái một đóa bồ công anh tươi thắm nhất cài lên mái tóc cô.
Rồi mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông qua, lại những
mùa xuân, lại những mùa hạ… bà lão trở bệnh nặng, cô bé được tuyển vào một đại
học xa, ngày cô đến chào bà, hai bà cháu ôm nhau khóc. Trước khi về, cô dặn đi
dặn lại: “Bà nhớ uống thuốc và ăn nhiều bà nhé, vài tháng nữa cháu về
thăm”. Bà nhìn theo dáng cô khuất sau cửa, tay bà vẫn còn chút hơi ấm của cô,
rồi bàn tay gầy guộc trở nên lạnh lẽo, bước chân mùa đông đang dần dần đến, bà
biết bà sẽ không còn gì nữa trong tay dù chỉ là một chút thời gian để chờ đợi.
*
Bây giờ là ngày hay đêm, mộng hay
thực, bà lão tự hỏi, bà cảm thấy khó thở nhưng bà không lo lắng, không sợ hãi,
bà đã sống gần một thế kỷ rồi còn gì. Biết bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn đã đi
qua đời bà, những kỷ niệm bỗng ùa về làm trái tim bà đau thắt, trong cơn đau,
dường như từ mênh mông xa vẳng lại tiếng cười trong veo như chim của cô bé,
tiếng cười làm tâm hồn bà lắng dịu… có phải một lần cô đã nói: “Cháu có nhiều
kiếp sống…”.
“Vậy cháu có bao giờ chết đâu, phải không cháu?” Không có
tiếng cô bé trả lời, bà nhắm mắt, trong đầu bà chỉ còn đóa hoa bồ công anh bay
bay trong gió, bà mỉm cười chìm sâu vào giấc ngủ, giấc ngủ bình yên nhẹ như mây
đưa bà đến một chân trời mới thấp thoáng những đóa hoa vàng.