Nội còn bốn người con, các cô đều có gia đình, luôn tất bật với
cuộc sống đời thường, ba tôi là con trai út duy nhất đang tiếp nối kế thừa tổ
nghiệp, nhưng vì yêu cầu nghề nghiệp, và sự đồng tình của nội, nên ba đã đưa
gia đình về làng Thượng, hòa nhịp với sự trợ lực của đồng nghiệp, nay nhận được
tin nhắn này chắc có điều hệ trọng, ba tôi miên man nghĩ ngợi trầm lắng.

Ảnh minh họa
Bước vào nhà, ngả nón ba cúi đầu chào nội. Nội bình thản ngồi
yên trên bộ ván ngựa, hai chân gác lên nhau, đôi mắt nhìn xa ra chiều nghĩ ngợi
cân nhắc, hai ly trà vô tư bốc khói, nội điềm tĩnh, ôn tồn:
- Này con, hôm nay cha nhắn con về để cùng bàn bạc, trao đổi một
việc hệ trọng. Như con đã biết, nghề đúc đồng truyền thống của tổ tiên được con
tiếp nối kế thừa, cha rất mừng. Nay, cha bước vào tuổi già, sức khỏe mỏi mòn
dần, nhưng không thể quên lời dặn dò “… đừng để những cái chảo, nồi mình làm ra
bị rò rỉ, để góp thêm niềm hạnh phúc đầm ấm trong bữa cơm của mọi gia đình… Nay
đèn, lư hương, nải quả v.v… là đồ thờ cúng Phật, gia tiên.
Mọi người ai cũng
muốn bộ đồ thờ trên bàn thờ gia đình, hoặc ở đình chùa, miếu mạo sáng đẹp, tôn
nghiêm để họ biểu lộ một chút lòng thành kính, tri ân, nên cha không muốn mình
là người làm sút giảm niềm vui ấy của mọi nhà”. Vả lại, nghề này khó tránh khỏi
hơi độc của kim loại, và khói than, rơm củi, cùng lúc ấy con đang ăn chay
trường quá đơn giản đạm bạc, có lúc cha thầm nghĩ, nhỡ con ốm đau rồi qua đời
trước cha thì tổ tiên ai chăm nom hương khói, mồ mả. Nghĩ thế, lòng càng xao
xuyến...
Không gian yên ắng bao trùm, ba tôi lặng lẽ ray rứt. Thọ trì
chay trường là điều đã phát nguyện trước thầy tổ và bà nội thuở sanh tiền, nay
gặp phải trở duyên với nghiệp báo quá khứ hay thầy tổ, chư long thần hộ pháp
tạo điều thử thách?! Ba từ tốn lấy mũ xin phép nội ra về, đầy ắp những điều
nghĩ ngợi.
Đã 10 giờ đêm rồi, mọi nhà trong xóm vào giấc ngủ. Tôi nằm trên
bộ ván ngựa sau bàn khách, gian giữa là phòng thờ. Rời chỗ ngủ, ba tôi lặng lẽ
khoác áo tràng lam đến dâng hương lên bàn Phật và bàn gia tiên, rồi đảnh lễ
Phật ba lạy, chắp tay nghiêm trang quỳ trước Đức Phật, đôi môi mấp máy, mấp
máy. Chợt, trên đôi mắt của ba lấm tấm vài hạt sương, tôi vội trở mình để nhìn
rõ hơn, rồi hai hàng nước mắt lăn dài trên đôi má, rồi cả thân rung lên nấc
nghẹn, ray rứt. Có lẽ ba tôi thầm nguyện Tam bảo độ trì để đủ sức vượt qua
chướng ngại. Quỳ như thế khá lâu, nhưng khi lên ván nằm nghỉ, ba lại tiếp tục
trằn trọc, tôi chưa đủ sức hiểu rõ những điều lo âu của người lớn.
Thế rồi, những bữa cơm sau đó, trông ba tôi dáng vẻ ngập ngừng
cảm xúc, tôi âm thầm chia sẻ mà không sao hiểu rõ nguồn cơn, từ đó nom thấy ba
tôi lặng lẽ, ít nói hơn mọi khi, và còn duy trì 10 ngày chay trong tháng, và cứ
thế lặng lẽ trôi nhanh.
Ngày ấy, sau năm 1975, tôi luôn tất bật với “phấn trắng bảng
đen”, và song hành cùng những Phật sự đang đảm trách, tự phấn đấu rèn giũa bản
thân, để giảm thiểu điều phiền lụy, chấp nhận cuộc sống mộc mạc bình dị, phần nào
học được từ giáo lý Phật Đà. Những năm sau đó của thời kỳ bao cấp, có lẽ lời
dạy “ít muốn biết đủ” trong kinh Di Giáo, đã ban tặng cho tôi một ít
điều “vượt lên chính mình”, nên cuộc sống đời thường vẫn song hành, song hành
chất ngất trọn vẹn niềm tin Tam bảo.
Thế rồi, cứ mỗi Chủ nhật tôi đưa gia đình
về thăm ông bà trên lưng “con chiến mã” cọc cạch, phương tiện duy nhất của
những buổi lên lớp, chăm sóc lũ học trò thơ bé ở làng quê. Những lần về thăm
“bổn cũ soạn lại”, nồi cơm của ba má tôi đa phần là sắn, là khoai lang còn món
phụ là nước muối dầm ớt chấm rau muống luộc qua thời kỳ xanh non mơn mởn. Trong
lòng tôi luôn cồn cào thao thức, và mỗi khi mang về trái mướp, trái cà tôi gieo
trồng, trông ông bà rất vui và nhìn ngắm say sưa, tôi chợt thấy lòng mình ấm
áp, niềm tin yêu cuộc đời, cuộc sống dâng trào.
Dưới mái nhà lò đúc, ba tôi luôn tay cạo gọt tỉ mỉ những khuôn
đất sao cho đạt yêu cầu, đây là một phần cơ yếu để thành phẩm có chất lượng
cao, vừa ý khách tiêu dùng. Ở góc nhà cạnh đó, má tôi đều tay từng mũi kim để
chiếc nón thành phẩm luôn chắc bền xinh đẹp. Thế rồi, không biết từ lúc nào
trong khung cảnh êm đềm đó, tôi say sưa miệt mài kể lại lược sử Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni, cùng những hành trạng bi thiết của chư vị Bồ tát.
Những tuần lễ
khác, sau chén trà đầm ấm, tôi miên man kể lại công hạnh hoằng pháp của chư tổ
Bồ Đề Đạt Ma hoặc Lục tổ Huệ Năng, triền miên trong những gian nan, khó khăn kế
tục truyền thừa những mạng mạch đạo pháp, hoặc lòng quả cảm của ngài Huyền
Trang, rời Đông độ sang Tây Trúc thỉnh chân kinh, với những nguy nan thử thách
suốt gần 20 năm, để lại cho hậu thế một “gia tài” vô cùng độc đáo v.v…
Niềm
hưng phấn sôi nổi, những tuần kế tiếp, tôi miệt mài kể lại những ngôi chùa cổ,
những danh thắng của Phật giáo Việt Nam còn tồn tại suốt cả nghìn năm
qua, bền bỉ, vượt gian nguy của đạn bom, bảo tồn hồn thiêng sông núi mãi đến
hôm nay.
Dường như lần nào cũng thế, mỗi lần về thăm tôi đều mang theo
rau, quả, củ làm quà mọn biếu ba má, thấy ông bà biểu lộ niềm vui tôi càng thêm
vui, và say sưa kể đến chư vị tôn sư thạc đức, đã khéo léo vận hành nguồn Chánh
pháp, luân chuyển và phát triển đến tận ngày nay. Trong thời kỳ cận đại và hiện
đại, hình ảnh hào hùng, từ ái của Bồ tát Thích Quảng Đức và chư vị “vì pháp
thiêu thân” đã gieo vào lòng người “con Phật” niềm tin mạnh mẽ, sâu lắng. Kế
tiếp, hình ảnh Ôn Thiện Minh, Thiện Hoa, Thiện Hòa, Ôn “Già Lam”, Ôn Trí
Nghiêm, Đỗng Minh v.v… còn mãi trong lòng mọi người Phật tử niềm kính mộ cảm
kích.
Ngày nọ, với
thông lệ thăm viếng, nhưng sao trong lòng tôi luôn rộn ràng niềm hưng phấn, với
ý tưởng ấp ủ từ lâu. Thế nhưng, tôi rất e ngại phân vân, không biết mở đầu ra
sao và nói cách nào cho thích hợp, hiệu quả. Đã qua hai chung trà, nhưng cũng
chỉ chuyện nắng mưa thời tiết, chuyện ân nghĩa xa gần trong thân bằng quyến
thuộc. Chung trà thứ ba còn bốc khói, tôi mạnh dạn bộc bạch:
- Thưa ba,
trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật đã dạy “chúng ta đang say sưa
hụp lặn trong ngôi nhà lửa tam giới. Không chịu thoát ra, ắt hẳn sẽ đắm chìm
trong mê lầm, phiền não khổ đau”. Ba ơi! Vâng lời Phật dạy và chư tôn đức
khuyên bảo, ba phát nguyện trở về lại “chay trường và thường xuyên tụng kinh
niệm Phật” ba nhé! Tôi vừa dứt lời, ba tôi nâng chung trà uống cạn, ông nở nụ
cười điềm đạm đầy tin yêu, đôi mắt sáng trong trên khuôn mặt cả quyết:
- Con yên tâm, ba đã suy tính rồi, đầu năm âm lịch 1985 này, ba
sẽ trở lại “chay trường” và luôn tụng kinh niệm Phật để sám hối nghiệp chướng
từ quá khứ còn tồn tại, để tâm tư luôn bình an thăng hoa, và mọi chúng sinh còn
chìm đắm trong khổ đau, sớm về cõi Tịnh độ.
Ba tôi dứt lời, lòng tôi nghe chừng nhẹ nhàng, thư thái như đôi
vai bớt đi gánh nặng, niềm mong ước thao thức bao năm qua nay thành hiện thực.
Hai mươi năm sau, sau thời niệm Phật sáng, ba tôi ra
đi về cõi An lành lúc bảy giờ sáng, trên môi còn điểm nụ cười phơn phớt. Bây
giờ, những lúc chợt lộ hiện giải đãi, phiền não thì tấm gương của ba khơi gợi cho tôi niềm tin yêu, dũng mãnh tự chống tay
đứng lên tiếp bước lộ trình chân chính đã chọn.