Giác Ngộ Online

Thiền từ Đồng Tháp đến Cali

Chúng tôi tới thăm ĐĐ Minh Thiền không phải vào một buổi trưa hè oi ả của vùng đồng bằng sông nước Cửu Long mà vào một buổi tối mát trời hôm thứ Ba ngày 7 tháng 10 năm 2008 ở miền Nam Cali.  Cũng con đường số 5 quen thuộc hướng vào thành phố Santa Ana, nơi phố xá lúc nào cũng đông người qua lại, xe cộ cũ kỹ đậu san sát hai bên đường, giống như phố xá của một thành phố bên Mê Hi Cô. Nơi đây, bao nhiêu là kỷ niệm của một thời Thầy Duy Lực đã hoằng pháp và rồi một sáng sớm mai Thầy lặng lẽ ra đi.

Từ Ân Thiền Đường TP. Santa Ana, Hoa Kỳ

Đã gần hai năm qua, Từ Ân Thiền Đường không có bóng dáng y vàng, nay có thầy đến, mái chùa dường như ấm lại. Thầy tiếp chúng tôi ngay nơi chánh điện trong một bầu ánh sáng vàng dịu ấm cúng. 

Định “phỏng vấn hay tham vấn” thầy dăm ba điều về pháp môn Tổ Sư Thiền và về hiện tình Phật giáo ở quê nhà, nhưng rốt cuộc được nghe thầy kể chuyện nhiều về đồng bào mình vùng Đồng Tháp, vùng Long Thành và vùng núi Sam Châu Đốc rủ nhau đi tu Thiền.

Thầy Thích Minh Thiền hiện là phó trụ trì chùa Tam Bảo, xã Tân Thuận Đông, tỉnh Đồng Tháp, là Thiền chủ các khoá Cấm Túc Chuyên Tu mùa Hạ mỗi năm và các khoá tu thiền thất mỗi tháng tại chùa.  Thầy đã từ Tam Bảo đến đây theo lời thỉnh mời của Ban Quản Trị Từ Ân Thiền Đường, nhằm mục đích hướng dẫn cho các Phật tử tu tập pháp môn Tổ Sư Thiền (TST) và thầy sẽ dùng những thời gian lưu ngụ nơi đây để giúp ban quản trị cùng các Phật tử ổn định việc tu tập, khuyến tấn hành trì hầu để duy trì pháp môn. 

Thầy Minh Thiền năm nay 49 tuổi, sinh quán ở Cần Thơ. Thầy xuất gia từ năm 1980 với Hoà thượng Thiện Phước, Trụ trì Chùa Phật Học Cần Thơ.  Từ năm 1982, thầy theo Hoà Thượng Duy Lực học Thiền và đã tham học liên tục từ đó.  Trong những lần về Việt Nam hoằng pháp, cố Hoà thượng Duy Lực thường đến chùa Tam Bảo trực tiếp hướng dẫn tứ chúng tu tập.  Thầy Minh Thiền là trợ lý cho Hoà thượng và trực tiếp hướng dẫn các khoá đả thiền thất khi Hoà thượng Duy Lực trở về Hoa Kỳ và cho đến nay sau khi Hoà thượng viên tịch.

Đó là khởi đầu cho một thời kỳ hy vọng pháp Tham Thiền Thọai Đầu tại Việt Nam sẽ vươn lên lớn mạnh. Theo lời kể của Thầy Minh Thiền, càng ngày càng có nhiều người đến chùa Tam Bảo cũng như các thiền đường khác tham học Thiền. Cho đến nay, mỗi kỳ đả thất hàng tháng tại chùa Tam Bảo có khoảng 100 người tham dự. Chùa Tam Bảo cũng là nơi được Ban Thừa Kế Tông Phong Tổ Sư Thiền Việt Nam (TSTVN) chọn làm nơi tổ chức khoá Cấm Túc Chuyên Tu mùa Hạ hàng năm dành cho chư Tăng Ni và Phật tử tu tập pháp môn TST. Riêng khoá Cấm Túc mùa Hạ năm 2008 vừa qua đã có tất cả 124 hành giả an cư. Trong đó có 21 Tăng, 44 Ni, 32 Nam Cư sĩ và 27 Nữ Cư sĩ. 

chuatambao-01.jpg

Thầy cũng cho biết khoá Cấm Túc Chuyên Tu mùa Đông năm nay sẽ được tổ chức tại Thiền đường Liễu Quán I, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tầu và ngày khai kiết Đông sẽ là ngày 08 tháng 09 năm Mậu Tý nhằm ngày 06-10-2008.

Được biết, sau khi Hoà thượng Duy Lực viên tịch một Ban Thừa Kế Tông Phong TSTVN đã được thành lập nhằm điều hợp các hoạt động tu tập của các chùa tu theo pháp môn TST.  Các chùa thành viên hiện nay gồm có: Chùa Phật Đà (thầy Thích Minh Hiền), quận 3 TP. HCM; Chùa Tam Bảo (Thầy Thích Phước Chí và thầy Thích Minh Thiền), xã Tân Thuận Đông, huyện Châu Thành, Đồng Tháp; Thiền Đường Liễu Quán I (thầy Thích Thiện Đức), huyện Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tầu; Chùa Pháp Thành I (Sư cô Thích nữ An Hương) TP. HCM; Chùa Pháp Thành II (Ni sư Tắc Thành và thầy Đồng Thường) huyện Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tầu; Chùa Liên Hoa (thầy Liêm Khai) TP. HCM; Chùa Huyền Trang (thầy Thích Truyền Tứ) thị trấn Nhà Bè và Chùa Phước Điền (thầy Thiện Tài), phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, An Giang.

Thầy Minh Thiền kể, sau khi HT Duy Lực viên tịch, sự phát triển pháp môn TST có phần đi lên, nhiều thiền đường đã được dựng lên và phát triển đều đặn, các khoá đả thiền thất được tổ chức liên tục tại các thiền đường: Tam Bảo, Liễu Quán I, Pháp Thành I, Pháp Thành II và Phước Điền với mỗi thầy hướng dẫn từng nhóm một. Trong năm qua, Thầy Đồng Thường giúp Ni Sư Tắc Thành tu sửa chùa Pháp Thành và hướng dẫn các khoá đả thiền thất hàng tháng ở đây.  Thầy Đồng Thường hiện là thủ quỹ Ban Thừa Kế Tông Phong TSTVN. Thầy Minh Hiền là trưởng ban và thầy Minh Thiền là phó ban.

Theo sử sách cho biết, Tổ Sư Thiền hay còn gọi là Thiền đốn Ngộ, cũng gọi là Thiền Tông, bắt đầu từ Đức Phật Thích Ca truyền cho ngài Ma Ha Ca Diếp. Tổ Ma Ha Ca Diếp là vị Tổ thứ nhất Thiền tông tại Ấn Ðộ. Cho đến Tổ thứ 28 là Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma thì ngài qua Trung Hoa truyền pháp nên được coi là Tổ thứ nhất Thiền Tông Trung Hoa. Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma truyền y, bát cho đến Tổ Huệ Năng, là Tổ thứ 6 tại Trung Hoa. Việc truyền y, bát tới tổ Huệ Năng thì chấm dứt. Sau đó Thiền Tông chia thành năm phái: Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng và Vân Môn.  Mỗi phái đều có phương tiện cơ xảo riêng để khế hợp với từng cơ duyên của đệ tử.  Tuỳ mỗi đương cơ mà chư Tổ, hoặc nói, hoặc không nói, hoặc dùng gậy đánh hay dùng tiếng la, tiếng hét. Giống như lương y tuỳ bệnh cho thuốc, chư Tổ cũng tùy cách phá chấp cho đệ tử.  Tuy khác nhau ở cơ xảo nhưng sự ngộ chẳng khác.  Lâm Tế và Tào Động là hai phái Thiền Tổ Sư còn tồn tại truyền qua Việt Nam, Cao Ly, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Ở Việt Nam, theo sử liệu, Thiền Tông được du nhập vào năm 580 vào thời vua Lý Phật Tử nhưng đến thời đại nhà Trần mới cực thịnh.

Ngày nay, khi nói đến Tổ Sư Thiền, người ta lập tức nghĩ tới việc tham Công Án và nghĩ rằng tham Công Án cũng tương tự như khán Thoại Đầu.  Thật ra công án và thoại đầu có khác nhau mặc dầu mục đích vẫn là “Gíac ngộ tự tâm, thấy suốt bản tánh”.  Các công án có chuyện tích phức tạp, thí dụ công án Vô của Thiền sư Triệu Châu: Một ông Tăng hỏi Hoà thượng Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không? Sư đáp: Không. Vị khác hỏi: “Con chó có Phật tánh không?” Sư đáp: Có. Tại sao ngài Triệu Châu nói “Không” cho người này lại đáp “Có” với người kia? Tại sao các loài hữu tình chúng sinh đều có Phật tánh, mà Hoà thượng Triệu Châu lại nói không, rồi sau đó lại nói có?  Ngài có nói sai không?  Nếu không thì ý ngài ở đâu? thắc mắc hoài không biết thành nghi tình. Còn khán Thoại Đầu, đơn giản hơn, thường không có chuyện tích phức tạp như thế mà chỉ là câu hỏi.  Ví dụ như câu “Niệm Phật là ai?” hay “Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao?”..v..v... 

Từ ban đầu, chưa có Công Án, mà chỉ là cơ xảo của chư Tổ, tùy theo theo căn cơ của người đối diện mà tháo gỡ vướng mắc đã khiến họ kẹt cứng, không hội nhập lại bản thể chân tâm được, thí dụ như Lục Tổ hỏi thượng tọa Huệ Minh: - Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? Nghe câu đó, thượng tọa Minh ngơ ngác, trong một sát na dòng tâm ý thức bị khựng lại, bản thể hiển lộ lập tức. 

Những thí dụ như trong 1700 công án đều là những câu vấn đáp của chư Tổ, chính là để đương cơ “khựng ngay dòng ý thức lại”. Mỗi vị đều có những câu khác nhau, tùy theo nhận xét của thầy mà đưa câu hỏi cho trò. Người sau thấy những câu hỏi đáp đó đã giúp khai ngộ cho đệ tử, bèn thu thập lại, rồi đề ra cho người tới xin tu, cho họ một câu, gọi là “một tắc công án”, để họ tự hỏi hoài, thành ra một nỗi thắc mắc nhân tạo, coi như phương tiện để giúp người tu thiền có thể ngưng đọng tâm tư, tạo được khối nghi, chờ một ngày kia có trợ duyên, khối nghi bùng vỡ, là Ngộ. 

Càng về sau, tâm tư con người càng phức tạp, biện luận càng nhiều. Người tu dùng công án để tạo nghi tình thì ít, đem công án ra để bình giải thì nhiều, công án nhà Thiền biến thành công cụ để bình luận văn thơ, đã không giúp cho dòng ý thức ngưng, còn khai triển ra đủ loại tư tưởng đối nghịch, biến thành trò chơi chữ nghĩa. Trong trường hợp đó, công án không còn phục vụ sứ mạng tạo nghi tình, lại lấp bít con đường đi tới giác ngộ chân chính, và cũng do bởi Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ra đời thời điểm này, ghi chép tất cả các thủ đoạn, công án của chư Tổ, khiến người tham thiền biết hết kỹ thuật của Tổ nên không phát khởi được nghi tình; do đó, chư Tổ mới bất đắc dĩ chế ra pháp “Tham Thoại Đầu” hay còn gọi là “Khán Thoại Đầu”. Tham Thoại Đầu có từ đó, từ đời nhà Tống bên Trung Hoa. Không rõ pháp “Tham Thoại Đầu” bắt đầu có ở Việt Nam từ năm nào, nhưng sau năm 1975 có một vị Sư người Việt gốc Hoa truyền giảng pháp môn này tại Việt Nam rồi sau đó truyền qua Úc, Canada và Hoa Kỳ theo vết chân di cư của chính vị Sư này và những Phật tử Việt Nam và Phật tử Việt gốc Hoa. Vị Sư này là cố Hoà Thượng Thích Duy Lực. 

Từ Saigon về Đồng Tháp, đến Long Thành, An Giang, Ninh Hòa, Nha Trang, rồi qua Hoa Kỳ, ngọn đèn pháp Thiền Tông vẫn đang được trao truyền, và pháp môn Tham Thọai Đầu vẫn đang là một lựa chọn, giúp cho nhiều người tu học. Thầy Minh Thiền từ miền sông nước Cửu Long qua Hoa Kỳ rồi sẽ trở lại Việt Nam cũng trong nỗ lực đó. Thầy cho biết trong thời gian lưu ngụ ở Từ Ân Thiền Đường hai tháng, thầy sẵn sàng đón tiếp mọi Phật Tử không phân biệt tông môn pháp phái và thầy sẽ hướng dẫn cùng trao đổi về pháp môn tu Tổ Sư Thiền. Đối với các Phật Tử ở xa có thể gọi điện thọai về Thiền Đường Từ Ân ở số (714) 265-2357.  Thiền đường toạ lạc tại số 4310 W. 5th St.  Santa Ana, CA 92703  

Tâm Diệu




© 2008-2019  Bản quyền thuộc về Báo Giác Ngộ