26/08/2008 07:05 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng
(Bài giảng trường hạ chùa Vĩnh Phước, ngày 28-7-2008)

Ý nghĩa kệ dâng y

Lễ dâng y tại Chùa Bửu Thọ- Kiên giang
Thay mặt Ban Chỉ đạo  An cư kiết hạ của  Thành hội Phật giáo  thành phố Hồ Chí Minh, tôi tán dương quý Ni trưởng, Ni sư và đại chúng trường hạ này. Đây là một trong những trường hạ mẫu để các nơi khác nương theo.

Ni trưởng Thiền chủ trường hạ này mặc dù tuổi cao, nhưng đã cố gắng vượt khó khăn để giữ đúng luật trong ba tháng an cư sống chung với đại chúng. Và những Ni trưởng khác trong Ban Chức sự dù bận nhiều Phật sự, cũng phát nguyện dành thì giờ sống chung với chúng để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của chúng và hiểu được hoàn cảnh từng người để tháo gỡ vướng mắc cho chúng được thanh tịnh tu học, cùng sống hòa hợp, an vui.
Riêng năm nay, Thành hội Phật giáo TP.HCM sẽ tổ chức giới đàn vào tháng 10 và tổ chức lễ mãn hạ tập thể cho Tăng Ni thành phố vào ngày mùng 10 tháng 7. Điều này mang ý nghĩa quan trọng, vì đây là lần đầu tiên chúng ta tổ chức lễ Tự tứ mang tính cách cấp thành phố để mừng tuổi đạo cho Tăng Ni thành phố, đồng thời để Tăng Ni gặp gỡ, chia sẻ cho nhau kinh nghiệm tu hành.
Nhờ có tập trung ba tháng an cư, chúng ta sống chung với nhau, học được nhiều điều và mỗi vị có sở đắc riêng do tâm chứng của từng người khác nhau. Riêng tôi, trong suốt 60 năm tu hành, luôn sống với đại chúng, nên thấu hiểu được tâm tư của đại chúng, giúp tôi trưởng thành trên bước đường tu học và thành tựu công việc Giáo hội giao phó, tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm này với quý vị, nhất là Tăng Ni trẻ.

Ngoài ra, tôi còn quan tâm đến vấn đề dâng y và thọ y, ai là người dâng cúng y và người nào xứng đáng thọ lãnh pháp y của Phật. Từ trước đến nay, có nhiều phương thức  thọ y, nhưng lần này, Thành hội Phật giáo TP.HCM sẽ tổ chức phương thức thống nhất về thọ y, ít nhất là cho cấp thành phố. Phương thức thông thường là Tăng Ni tự may sắm y cho mình; nhưng quan trọng là làm đúng pháp thì sinh công đức, làm không đúng pháp thì nghiệp chướng, trần lao sinh ra. Vì vậy, việc tự may sắm y cho mình cần phải cân nhắc. Người phạm sai lầm, tu suốt đời, nhưng không được kết quả tốt đẹp, mà còn lụn bại thêm, ví như xây lâu đài trên cát, hay nấu cát muốn thành cơm, nguy hiểm cho bản thân và tác hại đến nhiều người khác. Việc tự may sắm y thực sự có nhiều bất lợi. Tôi rất ưu tư vấn đề này.
Về việc truyền y, Đức Phật truyền y cho các vị Tổ, các Tổ truyền cho các thầy là bậc chân sư và thầy truyền cho đệ tử. Việc truyền y như vậy mang tính cách kế thừa.  Kế thừa có hai loại, kế thừa pháp của ba đời chư Phật, là thừa tự pháp và kế thừa y bát của ba đời các Đức Phật.
Trong sự truyền thừa có người truyền và người nhận. Vào thời kỳ Phật pháp suy đồi thì còn truyền về hình thức, tức y vẫn còn, nhưng pháp không có, nên gọi là thất truyền. Vì vậy, nếu quán sát kỹ sẽ nhận thấy Tỳ kheo và Tỳ kheo ni hình thức bên ngoài giống nhau, nhưng có vị trong y có pháp, có vị trong y không có pháp. Y và pháp phải gắn liền mật thiết với nhau, nhưng vì bị thất truyền nên y chỉ là miếng vải mà thôi.
Việc truyền thừa rất quan trọng, vì y và pháp phải gắn liền nhau, từ Phật truyền sang các Tổ, từ Tổ truyền sang các chân sư và từ chân sư truyền sang chúng ta. Và ta nhận  được pháp y ở các vị chân sư đắc đạo, đương nhiên cuộc đời tu hành chúng ta phải khác; vì y có năng lực che chở, cứu mạng chúng ta và pháp làm thăng hoa giới thân huệ mạng của chúng ta.
Khi thọ đại giới, Hòa thượng Thiện Hòa truyền y cho tôi, Hòa thượng Thiện Hoa là Yết ma để xác nhận tôi là Tỳ kheo trong chúng của Phật; đó là điều quan trọng nhất trong đời tôi. Thật vậy, tôi nhờ thọ y đúng pháp và đúng người, nên đã vượt được nhiều chướng duyên trên bước đường hành đạo, thành tựu được một số Phật sự. Các huynh đệ khác tuy cùng thọ giới trong một giới đàn với tôi, cũng thọ y từ Hòa thượng Thiện Hòa và nhận Yết ma là Hòa thượng Thiện Hoa, nhưng không được công đức hay thành quả như tôi. Điều này tôi muốn chia sẻ với quý vị.
Pháp của Đức Phật là pháp thanh tịnh, nên không thể đem đặt vào trong bình ô uế. Đây là điều rất quan trọng. Phật, Tổ, Thầy thì thanh tịnh, nhưng thân tâm chúng ta không thanh tịnh, chắc chắn chúng ta không bao giờ có được kết quả tốt đẹp. Thực tế cho thấy có người thọ giới xong thì bệnh, chết; có người thọ giới rồi điên cuồng, có người bị mất y, có người hoàn tục, v.v…; vì khi thọ giới, tâm không thanh tịnh, cho nên viên ma ni của Đức Phật để vào thân ô uế thì thân phải vỡ liền.

Trước khi thọ đại giới, trong suốt mùa an cư, Hòa thượng Thiện Hòa dạy tôi mỗi ngày phải lạy sám hối Hồng danh, ngoài thời khóa bình thường của đại chúng và trong ba tháng an cư không đi ra ngoài, không tiếp xúc với ai và nhất là phải thường sống trong chánh định, ngồi một mình tư duy giáo pháp, chủ yếu là kinh Pháp Hoa, hay Pháp thân thường trú của ba đời chư Phật.
Phải lắng lòng thanh tịnh, trong sáng thì lãnh thọ giới pháp của Phật qua y bát, cuộc đời chúng ta mới thăng hoa. Trước khi thọ đại giới, tôi là Sa di thường đau yếu; nhưng sau khi thọ đại giới, tôi ăn ít mà sức khỏe tốt hơn, thông minh hơn; nghĩa là tôi đã thừa tự được pháp và y của Phật qua các vị chân sư truyền cho. Đó là kinh nghiệm thiết thân mà tôi muốn nhắc nhở quý vị.
Từ ý thức về truyền thừa y pháp một cách đúng đắn như vậy và với cương vị lãnh đạo Thành hội Phật giáo TP.HCM, tôi nghĩ rằng việc thọ y và truyền y cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, không được tự may sắm. Chúng ta mong Phật, thầy và Giáo hội truyền y cho. Điều này có ý nghĩa như thế nào?

Giáo hội là tập thể Tăng già có đủ tư cách truyền y. Thầy truyền y cho đệ tử, thì sự truyền thừa này có giá trị giữa thầy trò. Còn Phật truyền pháp, thì người thọ Bồ tát giới cầu Phật Thích Ca làm Thầy, cầu Bồ tát Văn Thù làm Yết ma và Bồ tát Di Lặc làm Giáo thọ; nghĩa là muốn Phật truyền, chúng ta phải thâm nhập vô tướng giới đàn, vì trong giới đàn vô tướng, mới thấy Đức Thích Ca đang thuyết pháp, có ngài Văn Thù đang hầu cận và Đức Di Lặc là người thừa kế, cùng với mười phương chư Phật khen ngợi. Thiên Thai Trí Giả nhập vô tướng giới đàn, mới nói rằng hội Linh Sơn chưa tan và ngài đã thọ giới trên hội Linh Sơn, được Phật truyền y bát cho ngài trong chánh định và được Phật xoa đầu thọ ký, được Phật lấy y trùm cho. Vì là y nhu hòa nhẫn nhục, cho nên tất cả mọi việc trên cuộc đời xảy ra hiểm nguy như thế nào, hành giả vẫn an nhiên tự tại, không chút bận tâm. Đó cũng là kinh nghiệm của tôi, trên bước đường hành đạo, việc càng khó, tôi càng bình tĩnh, càng vui hơn, vì tôi cảm nhận được Phật trao pháp y. Phật này là Phật pháp thân thì trao pháp y cũng trao cho Pháp thân Bồ tát để hành đạo. Vì vậy, tôi thường nói rằng chỉ có Phật, thầy và mình biết là đủ; còn “chúng nó” không biết càng tốt. “Chúng nó” là chúng ma không biết càng dễ cho mình, chúng ma hay ngũ ấm ma, phiền não ma để cho nó ngủ luôn, trong khi tâm chúng ta thanh tịnh, thức tỉnh mới nhận được pháp Phật truyền trao.

Vì vậy, pháp y từ Phật trao cho chúng ta trong giới đàn vô tướng, nên chúng ma không biết. Người đắc được pháp Như Lai thì hiện hữu trên cuộc đời, là sứ giả Như Lai, làm việc của Như Lai ủy thác, nên có Thiên long Bát bộ hộ vệ, nhờ vậy mà việc mọi người thấy khó, còn ta không thấy vướng mắc gì cả. Thật vậy, nhờ có Hộ pháp long thiên sắp xếp, bậc chân tu không lo cơm ăn, áo mặc, chỗ ở. Tỳ kheo mà còn bận tâm với cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, coi như bị đọa. Tại sao chúng ta không lo ba việc đó. Nếu chúng ta là đệ tử của Như Lai, Ngài đã ủy thác cho nhân thiên cúng dường, còn gì để lo. Trí Giả đại sư nhập định, thụ đắc được giới pháp của Phật ở hội Linh Sơn thì trên hiện tượng này, mọi việc đổi khác. Tùy Dạng Đế đem quân lên chỗ ngài ẩn tu để xây dựng chùa Ngọc Tuyền đồ sộ. Ngài chỉ ngồi yên nhập định mà chùa cao đẹp hơn tất cả chùa khác, vì do vua chúa xây dựng. Người tu nỗ lực cầu thụ đắc được giới pháp của Như Lai; nếu không, trở thành ăn xin thực sự.
Y và pháp của Như Lai ban cho rồi, ta có pháp bên trong là trí tuệ hơn người và có y bên ngoài là nhu hòa, nhẫn nhục, chúng ma tà đạo không phá hại được. Y và pháp Như Lai ở trong vô tướng, cho nên thụ đắc trong vô tướng, nghĩa là Pháp thân thụ đắc. Tuy nhiên, thụ đắc trong vô tướng thuộc về lý tưởng thì trở về thực tế cuộc sống, lý tưởng này phải phù hợp với thực tế; nếu không phù hợp sẽ trở thành ảo tưởng, không tưởng.
Trong lý tưởng thì đẹp vô cùng, nhưng trở lại thực tế cuộc sống hẩm hiu, buồn chán; nói cách khác, nghe dạy như vậy hay quá, nhưng mà tu thì khổ vô cùng. Nếu thấy như vậy chắc chắn không thể tu được. Phải nói rằng chúng ma thấy khổ, nhưng lòng mình thấy tu hành là cực lạc mới tiến tu được. Tôi được làm việc thấy vui lắm, người sợ làm việc mà thích hưởng thụ là đọa. Thích làm việc, nhưng sợ hưởng thụ là Sa môn.

Trên hội Linh Sơn, chúng ta nhận được pháp Phật, tức Ngài trao cho trí tuệ và nhận được y của Phật, tức Ngài trao cho sự an lành để chúng ta làm đạo. Vì vậy, mọi việc trên cuộc đời dù khó khăn bao nhiêu, cũng vượt qua được dễ dàng; đó là đắc pháp. Và việc càng khó, chúng càng khôn. Tôi thích làm việc khó vì phải động não mới phát hiện được điều kỳ bí; không khó, không suy nghĩ, bộ não chúng ta dễ bị sơ cứng. Hết việc khó, tôi cảm thấy buồn chán. Và việc khó, mình càng dễ làm, không bị vướng, vì thiên hạ sợ, bỏ. Còn việc dễ, có quyền lợi, nhiều người tranh giành. Vì vậy, Đức Phật thường tán dương các vị Bồ tát hay làm những việc khó làm.

Trở lại việc truyền pháp,  Đức Phật truyền cho Tổ,  Tổ truyền cho thầy và  thầy truyền cho ta. Nếu thầy là bậc chân sư thì rất tốt. Còn thầy tà rất nguy hiểm vì dẫn chúng ta đi lệch quỹ đạo của Như Lai. Và nếu thầy dạy chúng ta không tu giới pháp của Phật, không thuộc hàng tam thừa tứ quả thì sẽ truyền cho chúng ta cái gì.
Thầy mà chúng ta chọn thuộc vào hàng tam thừa tứ quả giải thoát Tăng. Khi tôi xuất gia, đọc Sám quy mạng, đến câu: “Tam thừa tứ quả, giải thoát Tăng. Nguyện tứ từ bi ai nhiếp thọ”, tôi rơi nước mắt. Thời tôi tu hành, 60 năm trước, hiếm có chùa, không có trường Phật học như bây giờ. Gặp được vị Tăng trong tam thừa để mình tu học đúng Chánh pháp, gặp vị Tăng giải thoát để mình nương theo được giải thoát, là việc khó khăn vô cùng. Lúc bấy giờ tìm được thầy dạy Kinh Luật Luận rất khó; vô chùa, thầy chỉ truyền cho mình việc đi cúng cầu an, cầu siêu, coi ngày giờ, xem sao giải hạn, v.v…

May mắn, tôi vào Phật học đường Nam Việt, được học Kinh với Hòa thượng Trí Tịnh, học Luật với Hòa thượng Thiện Hòa, học Luận với Hòa thượng Thiện Hoa. Gặp được những bậc chân sư như vậy truyền trao giới pháp của Phật, cuộc đời tu hành chắc chắn đi lên. Mặc dù chúng ta chưa thọ pháp và y trực tiếp từ Đức Phật, nhưng thọ được với các bậc chân sư, chúng ta tuy chưa chứng Pháp thân, ít nhất cũng sống trong quỹ đạo của Phật.
Tu học ở Phật học đường Nam Việt, tôi tiếp thu văn tự kinh điển và nhận ca sa của các vị tôn đức này; nên tôi cảm thấy ấm lòng, thấy đây là nơi an ổn tốt lành nhất trong cuộc đời tu của mình, mặc dù cuộc sống vật chất ở nơi này hẩm hiu, nhưng được học hành là vui rồi.
Nhận được y bát từ Như Lai, từ thầy truyền, chúng ta nương theo đó mà tu hành. Và điều thứ ba, chúng ta cầu Giáo hội, hay Tăng đoàn, tức tập thể Tăng tiêu biểu truyền y. Có trên bốn vạn Tăng Ni cả nước, riêng Thành hội Phật giáo TP.HCM có trên bảy ngàn Tăng Ni.
Khi quý vị nhận pháp y tại chùa Vĩnh Phước, chỉ có Ban Chức sự chùa này và đại chúng nơi đây công nhận. Nhưng chúng ta về tham dự lễ nhận pháp y tại chùa Phổ Quang do Thành hội Phật giáo TP.HCM tổ chức, tiêu biểu cho bảy ngàn Tăng Ni của thành phố, tất nhiên có giá trị trên toàn thành phố.
Tôi chỉ đạo riêng hai trường hạ của thành phố bắt buộc phải đem pháp y về thọ nhận trước sự chứng minh của Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM. Các trường hạ quận huyện tham gia dưới hình thức tùy hỷ.

Qua lễ mãn hạ dâng y của TP.HCM, tất cả Tăng Ni có cơ hội giao tiếp, học hỏi kinh nghiệm tu hành lẫn nhau, có thể gọi đó là ngày đại Tự tứ vậy. Và trong cuộc lễ long trọng này, mong rằng có đầy đủ phước báo của nhân thiên; nói cách khác, có ảnh hưởng vô hình của chư Thiên tác động và sự phát tâm của hàng Phật tử cúng dường.
Trong lễ dâng y năm nay, tôi làm bài kệ như sau:
Con nay thành kính cúi đầu
Nguyện dâng pháp phục thỉnh cầu chứng minh
Thọ trì đọc tụng chơn kinh
Tứ sanh lục đạo siêu sanh Giác đài
Ba đời chư Phật Như Lai
Cũng nhờ pháp phục hiện ngay thân vàng
Tam thừa tứ quả chơn Tăng
Ca sa bình bát hiện thân độ đời
A Nan, Ca Diếp truyền thừa
Thần Quang Lục Tổ là người thọ y
Văn Lang từ thuở sơ khai
Cương Lương, Tăng Hội truyền ngay y vàng
Con nay mắt thấy rõ ràng
Việt Nam Giáo hội ngàn ngàn Tăng Ni
Trải qua những cuộc thạnh suy
Nhờ có y bát, đạo này bền lâu.
Hai câu đầu nói cho chư Thiên và Phật tử ở nhân gian. Họ đến dự lễ dâng y, tùy hỷ cúng dường, chúc mừng chư Tăng chư Ni thêm một tuổi đạo, vì biết dâng cúng như vậy, họ sẽ được phước báo. Các Phật tử tham dự rất đông, nhưng không phải tất cả đội y cúng dường, mà chỉ chọn 100 Phật tử đại diện dâng cúng y.
Thọ trì đọc tụng chơn kinh
Tứ sanh lục đạo siêu sanh Giác đài
Chúng ta mặc y pháp của Phật để thọ trì được chơn kinh là nghĩa quan trọng. Vì là phàm Tăng, chúng ta chỉ đọc, học và hiểu được văn tự kinh, nhưng nhờ thọ lãnh pháp của Phật và được đại chúng công nhận, tâm chúng ta thanh tịnh, mới thọ trì được chơn kinh.
Kinh Pháp Hoa có năm loại, gọi là ngũ chủng Pháp Hoa. Trước hết là văn tự kinh trên giấy trắng mực đen để giúp chúng ta tiến xa hơn trên con đường khai mở trí giác. Vì vậy, nếu chỉ dừng lại ở chữ nghĩa, thì đọc kinh văn suốt đời cũng không thâm nhập được nghĩa kinh, là sai lầm. Từ đọc văn tự bên ngoài để hiểu nghĩa từng chữ, từng câu trong kinh và suy nghĩ rộng tìm lý sâu xa tiềm ẩn bên trong văn kinh, gọi là nghĩa thú kinh. Và điều quan trọng là phải biến thành tâm kinh, nghĩa là tâm chúng ta đã thâm nhập nghĩa lý kinh, tạo thành thế giới mầu nhiệm, đưa chúng ta vào học xứ của Bồ tát, của Như Lai. Đến đỉnh cao đó mới học được chơn kinh.
 Như Lai thuyết chơn kinh bằng tâm và ta cũng nghe bằng tâm, là tâm truyền tâm, nên không qua ngôn ngữ. Cuối cùng là chuyển kinh Pháp Hoa thành hạnh Pháp Hoa, thì hành giả hiện hữu trên cuộc đời không cần nói, nhưng đã là biểu tượng phước báo cho nhân thiên. Ý này được diễn tả trong bài Sám quy mạng như sau: Kỳ hữu kiến ngã tướng, nãi chí văn ngã danh, giai phát Bồ đề tâm, vĩnh xuất luân hồi khổ. Bấy giờ, không đọc tụng kinh Pháp Hoa nữa và cũng không làm gì nữa, nhưng người nghe đến tên hành giả liền được an lạc, nhìn thấy hành giả liền được giải thoát.

Điều mong mỏi của hàng nhân thiên cúng dường là chúng ta thọ trì được chơn kinh để chúng sanh lục đạo siêu sanh Giác đài; đó là đỉnh cao của ngày lễ Tự tứ. Nếu không đạt được mục tiêu này, chúng ta đã có lỗi. Như vậy, muốn làm cho tứ sanh lục đạo siêu sanh, phải thọ trì kinh điển từ văn tự chữ nghĩa cho đến hiểu được nghĩa lý của kinh và nhất là luôn sống trong chánh định.
Ba đời chư Phật Như Lai
Cũng nhờ pháp phục hiện ngay thân vàng
Đức Phật Thích Ca dạy rằng trong tứ sanh lục đạo chỉ có loài người được xuất gia làm Sa môn và chỉ Sa môn mới tu hành thành Phật được. Ba đời chư Phật Như Lai cũng vậy, đều phải sanh làm người, xuất gia, làm Sa môn, rồi mới thành tựu Phật quả. Chúng ta được mặc áo Sa môn là điều vinh hạnh nhất, nên được gọi là Chúng trung tôn. Các loài khác cũng phải sanh làm người rồi tu hành, làm Sa môn đầy đủ đạo hạnh Bồ tát, mới làm Phật được.
Tam thừa tứ quả chơn Tăng
Ca sa bình bát hiện thân độ đời
Tam thừa gồm Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát.
Tứ quả của Thanh văn là Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán.
Tứ quả của Bồ tát theo kinh Hoa Nghiêm là Bồ tát Thập hạnh, Bồ tát Thập trụ, Thập hồi hướng và Bồ tát Thập địa.
Các bậc chơn Tăng trong tam thừa đi truyền đạo từ Ấn Độ sang Trung Quốc, đến Việt Nam cũng chỉ có một bình bát và một ca sa, đến nơi nào hành đạo, các ngài cũng đều mang an lành cho quần chúng. Việc thọ y bát rất quan trọng đối với người tu và cũng là trách nhiệm lớn mà các vị chơn sư đã thực hiện được, chúng ta là người kế thừa tất yếu cũng phải làm được như các ngài.
A Nan, Ca Diếp truyền thừa
Thần Quang Lục Tổ là người thọ y
Khi Đức Phật Niết bàn, Ngài đã truyền y cho Tổ Ca Diếp, Tổ Ca Diếp truyền cho A Nan và y được truyền đến chúng ta. Y năm điều, bảy điều, chín điều đều của chư Phật truyền và chúng ta làm lễ truyền y cũng đúng theo pháp Phật, gọi là Tổ Tổ tương truyền, sư sư tương thọ.
Đến khi Phật pháp truyền sang Đông Độ, tức Trung Quốc, Tổ Đạt Ma đã truyền y pháp cho Thần Quang, Thần Quang truyền cho Tăng Xán, Tăng Xán truyền cho Đạo Tín, Đạo Tín truyền cho Hoằng Nhẫn và Hoằng Nhẫn truyền cho Lục tổ Huệ Năng.
Văn Lang từ thuở sơ khai Cương Lương,

Tăng Hội truyền ngay y vàng

Đến Việt Nam, đạo Phật được biết khởi đầu từ hai vị là Chi Cương Lương Tiếp và Khương Tăng Hội. Ngài Chi Cương Lương Tiếp truyền bá Pháp Hoa Tam muội, thuộc Pháp Hoa tâm, nên truyền trong Thiền định, không có kinh Pháp Hoa văn tự. Thiền sư đắc đạo có chơn kinh trong tâm và truyền cho người qua tâm, gọi là tâm truyền tâm, thần truyền thần, không qua ngôn ngữ. Kinh Pháp Hoa văn tự ngày nay chúng ta đọc tụng là của ngài Cưu Ma La Thập dịch đời Diêu Tần. Ngài Khương Tăng Hội dịch kinh Lục Độ và kinh Pháp Hoa phẩm Thí dụ. Mặc dù ngài dịch kinh ở đất Giao Châu, nhưng không truyền bá được ở Việt Nam và Ngô Tôn Quyền nghe danh ngài nên đã rước ngài về Trung Quốc ở nước Đông Ngô.

Con nay mắt thấy rõ ràng

 Việt Nam Giáo hội ngàn ngàn Tăng Ni

Trải qua những cuộc thạnh suy

Nhờ có y bát, đạo này bền lâu.

Tăng Ni chúng ta có được sinh hoạt tu học ngày nay cũng nhờ cội gốc truyền thừa như trên. Và những  gì đúng pháp thì tồn tại; trái lại, không đúng pháp thì có rồi mất. Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất từ năm 1982 và phát triển cho đến ngày nay, lúc khởi đầu chỉ có 70 Tăng Ni tham dự Hội nghị thống nhất Phật giáo cả nước năm 1981; nhưng trải qua 27 năm sinh hoạt, ngày nay chúng ta đã có trên bốn vạn Tăng Ni tu hành.
Sinh hoạt Phật pháp của hàng vạn Tăng Ni và Phật tử ngày nay đã gợi nhắc chúng ta nhớ đến y bát chơn truyền phát xuất từ ngài Chi Cương Lương Tiếp và Khương Tăng Hội ở buổi sơ khai. Và trải qua thời kỳ hưng thạnh của Phật giáo Lý Trần, cũng như những lúc suy đồi như thời Pháp thuộc, gần như chúng ta không còn kinh điển và các thầy phần lớn đi cúng đám, tụng kinh Di Đà nhưng không hiểu nghĩa.
Có thể nói thời kỳ Phật giáo hưng thạnh, người tu được học giáo pháp và tu đúng Chánh pháp, làm cho đạo pháp phát triển khắp nơi, lợi lạc cho dân tộc. Nhưng gặp thời kỳ suy đồi, kinh điển, y bát được cất kỹ, chờ đủ duyên thì đạo pháp mới phát triển trở lại. Theo dòng thuận nghịch của những cuộc thạnh suy như vậy, đạo Phật đã hiện hữu ở Việt Nam, đồng lao cộng khổ cùng dân tộc trên hai ngàn năm. Quả thật đó là đạo chân truyền hằng hữu trên nhân gian này chỉ để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

HT.Thích Trí Quảng

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:
     
Thông tin tòa soạn
Liên hệ tòa soạn
Giác Ngộ số 1.045
Nguyệt san Giác Ngộ
Đăng ký mua báo Giác Ngộ 2020 - Tư vấn
Sách Giác Ngộ, cụm Tư vấn
Địa điểm phát hành GN, cụm Tư vấn
Liên hệ 1
Visitor
Visitor