27/03/2009 22:26 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Củng cố niềm tin (kỳ 1)


(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 42 tại chùa Phổ Quang ngày 12-10-2008)

Củng cố niềm tin có nghĩa là niềm tin bị lung lay, nên phải điều chỉnh cho vững chắc. Trên bước đường tu, Đức Phật dạy rằng người không có niềm tin không thể thành tựu bất cứ công đức nào. Vì vậy, Đức Phật  đã khẳng định rằng niềm tin là mẹ sanh ra tất cả các công đức, hay mẹ sanh ra tất cả thành công của chúng ta. Nhưng nếu niềm tin đặt không đúng chỗ, không đúng đối tượng, sẽ dẫn đến khổ đau cho ta và cho người.

Khi Đức Phật tại thế, có rất nhiều tôn giáo đưa ra những giáo điều khác nhau, chống trái nhau, đã khiến cho quần chúng hoang mang, không biết tin vào đâu, tin Thượng đế hay là tin con người; đó là hai tư tưởng mâu thuẫn lớn nhất thời bấy giờ. Những người tin Thượng đế thì họ cúi đầu khuất phục trước sự toàn quyền định đoạt của Thượng đế áp đặt lên cuộc sống con người. Trái lại, nếu tin vào con người thì họ bác bỏ tất cả sự hiện hữu của thần linh.

Từ nỗi hoang mang như vậy, Đức Phật đã xuất hiện trên cuộc đời với tư cách là một người siêu việt mà không ai có thể sánh bằng, Ngài có cơ thể hoàn hảo với trí thông minh tuyệt vời và khỏe mạnh vô địch. Và Đức Phật đã nhận thấy vô số niềm tin sai lầm của những người đương thời là nguyên nhân chính đưa họ vào con đường sa đọa, khổ đau. Điển hình như Vô Não tin rằng giết được nhiều người thì sẽ thành Thánh, hoặc có những ngoại đạo khuyên người ta phải hành hạ thân xác thật đau đớn như đi trên lửa, hay ngồi trên bàn đinh, để được lên Trời, cũng có người tin rằng phải hưởng thụ tất cả những khoái lạc trong cuộc sống hiện tại, vì không có kiếp sau,  v.v…

Với trí thông minh tột đỉnh, chắc chắn Đức Phật không chấp nhận những quan niệm có trước nhưng hoàn toàn sai lầm của các giáo chủ ngoại đạo đương thời. Vì vậy, bằng kinh nghiệm sống thiết thực của Ngài, Đức Phật đã khuyên chúng ta không nên tin những gì dù điều đó do đạo sư nói, hay là do truyền thuyết đã có từ lâu đời. Tin Đạo sư nói như Vô Não tin Thầy dạy ông giết người, hoặc Kamala, hay Uất Đầu Lam Phất là hai vị đạo sư đáng được kính trọng, nhưng khi  Phật ứng dụng lời dạy của họ, Ngài nhận thấy còn những điều chưa hợp lý. Đương nhiên những gì mà hai vị này dạy cũng giúp ích phần nào cho Ngài, nhưng điều chính yếu là phải tự phát huy được trí tuệ của chính mình, cho nên Ngài đã rời bỏ họ để tiếp tục tìm chân lý. Không tin tuyệt đối đạo sư là như thế. Và không tin truyền thuyết chỉ cho kinh Vệ Đà đã có từ mấy ngàn năm ở Ấn Độ. Kinh này có thể có một số điểm chấp nhận được ở thời thần quyền, nhưng cũng có nhiều điểm sai trong thời đại chúng ta.

Chúng ta tin điều gì, phải cân nhắc xem có hợp lý hay không và áp dụng điều đó có kết quả hay không; nếu thực hành trong cuộc sống, thấy đúng, thì tin. Như vậy, Phật dạy rõ rằng cần có niềm tin, nhưng phải làm thí nghiệm và thiết nghĩ trong thời đại chúng ta, có thể sử dụng ánh sáng khoa học để soi rọi, giúp chúng ta dễ thấy đúng sự thật hơn.

Trên bước đường tìm đạo, với niềm tin chân chánh, Đức Phật đã góp nhặt và tổng hợp những hiểu biết của người xưa, những kinh nghiệm lịch sử và truyền thống để có hiểu biết hiện tại. Sau đó, bằng suy tư, Thiền quán, Ngài tìm ra chân lý, tức đắc đạo dưới cội Bồ đề. Bồ đề là trí giác, nghĩa là sự hiểu biết về loài người từ khi lịch sử hình thành cho đến thời hiện đại. Tuệ giác vô hình, người ta không thấy được, mà chỉ thấy cây Bồ đề nơi Phật ngồi, nhưng thật ra đó là nơi Đức Phật tập hợp trí tuệ của nhân loại và thể nghiệm trong cuộc sống. Vì vậy, chúng ta không nên lầm lẫn rằng Bồ đề chỉ cho cây thật, phải hiểu Bồ đề là tuệ giác của ba đời mười phương Phật cộng với trí tuệ của loài người. Đức Phật đã nhận được và sống được với tinh thần đại giác, Ngài thấy biết hoàn toàn và chính xác sự hiện hữu và sự biến đổi của muôn loài trong cả Pháp giới.

CUng (1).gif

Chắp tay quỳ dưới Phật đài - Ảnh: Bảo Thiên

Và khi Đức Phật đi sâu vào Thiền định để phát huy trí tuệ, Ngài đã thâm nhập vào nguồn thác trí tuệ của ba đời chư Phật, tức thành đạo, đạt đến đỉnh cao của tuệ giác, Ngài suy nghĩ ai là người có khả năng hiểu được và sống được với giáo pháp của Ngài. Đức Phật liền nhớ đến năm nhà hiền triết đứng đầu là Kiều Trần Như đang tu khổ hạnh ở Lộc Uyển. Ngài liền từ Bồ đề đạo tràng đi đến Lộc Uyển, giảng dạy cho họ giáo pháp mà Ngài đã chứng đắc. Có thể hiểu rằng Đức Phật chọn 5 nhà hiền triết để làm thí nghiệm trong việc giảng dạy loài người vì ở một chừng mực nào đó, những vị này là người có đức hạnh nhất thời bấy giờ và họ đã sẵn sàng từ bỏ cuộc sống vật chất để thể nghiệm chân lý. Trí tuệ hay hiểu biết mà Đức Phật giảng dạy để họ hiểu được và thực tập được gọi là trí phương tiện, còn tuệ giác mà Ngài chứng đắc là trí chân thật. Đức Phật chứng trí chân thật, nhưng giảng dạy cho loài người bằng phương tiện trí để thích hợp với trình độ của người nghe. Vì vậy, Kiều Trần Như sau khi tu học với Đức Phật đã chứng Thánh quả A la hán, nhưng quả vị La hán của ông không giống với quả vị La hán của Phật. Theo kiến giải của Đại thừa, có sự phân chia lợi căn La hán và độn căn La hán. Tuy cùng là Thánh quả, nhưng cuộc đời của Đức Phật và Thánh chúng hoàn toàn khác nhau; vì quả vị của Đức Phật là do Ngài thực chứng, trong khi các La hán phải nương theo giáo pháp Phật mới chứng được. Từ đó, Đức Phật lập giáo khai tông, đưa ra ba phạm trù là quy y Tam bảo để tất cả mọi người  dù xuất gia hay tại gia đều phải nương theo đó tu hành.

Muốn trở thành Phật tử, phải quy y Tam bảo là quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Pháp Tam quy vô cùng quan trọng, là pháp phương tiện ví như chiếc phao nổi trên biển khổ cho mọi người bám vào để vượt qua biển khổ sinh tử. Quy y Phật, Phật là Đức Phật Thích Ca, là đấng toàn giác, hiểu biết của Ngài vượt trên tất cả kiến thức của muôn loài. Khi Đức Phật còn tại thế thì người ta trực tiếp nương theo lời dạy của Ngài. Nhưng Phật Niết bàn, chúng ta quy y Phật còn có nghĩa sâu là nương vào trí tuệ tức giáo pháp của Phật để thực tập tu hành. Ý này được kinh Pháp Hoa diễn tả là từ bỏ quyến thuộc ngu si, thân cận người trí, nhiếp niệm ở núi rừng, cầu Vô thượng Chánh đẳng giác; nghĩa là từ bỏ nghiệp chướng, phiền não, trần lao, nương theo pháp Phật và sống trong Thiền định mà kinh nói là nhiếp niệm ở núi rừng. Không phải ở núi rừng thật, nhưng sống giữa rừng người mà tâm chúng ta không bị dao động, không bị mọi người, mọi việc bên ngoài chi phối, tập trung được để thấu hiểu lời Phật dạy để thực tập trong cuộc sống, mới khai mở trí tuệ được. Như vậy, Đức Phật tại thế, chúng ta đặt trọn niềm tin nơi Phật; Phật Niết bàn, chúng ta cũng tin những người sống trong pháp Phật và có trí tuệ bậc nhất để chúng ta cầu học với họ.

Thứ hai là quy y Pháp, tức tin vào lời Phật dạy, hay tin pháp Tứ Thánh đế mà Đức Phật đã nói trước tiên là chân lý. Tin pháp Tứ Thánh đế, chúng ta phải tìm hiểu nghĩa lý của pháp này, không phải tin mù quáng. Đức Phật nói rằng cuộc đời này là biển khổ, thì chúng ta phải thấy có khổ thật hay không. Ngài chỉ cho chúng ta thấy rõ vô minh là nguyên nhân dẫn đến sai lầm và hành động sai lầm khiến ta tạo nghiệp chướng trần lao, nên phải khổ đau. Nhận thấy lời Phật dạy như vậy quá đúng, chúng ta tin hoàn toàn sự thật, tức tin chân lý thuộc phần Khổ đế và Tập đế, thì tiếp theo, Đức Phật dạy chúng ta thực hành 37 trợ đạo phẩm để diệt trừ vô minh, nghiệp chướng, trần lao, gọi là Diệt đế và Đạo đế.

(Còn tiếp)

HT. Thích Trí Quảng

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:
     
Thông tin tòa soạn
Liên hệ tòa soạn
Giác Ngộ số 1.068
Nguyệt san Giác Ngộ
Sách Giác Ngộ, cụm Tư vấn
Địa điểm phát hành GN, cụm Tư vấn
Đăng ký mua báo Giác Ngộ 2020 - Tư vấn
Liên hệ 1
Visitor
Visitor