Giác Ngộ Online - Tết Nhâm Thìn 2012
Tết Việt Khắp Nơi

Tết quê người ngó về quê Mạ

10/01/2012 01:07 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Nếu có một lời cầu chúc vừa đẹp vừa thực tế cho Năm Mới thì chỉ xin cầu chúc rằng, Việt Nam và thế hệ trẻ sẽ "Một chân bước ra, ba chân bước tới" trong nỗ lực tiếp cận và hội nhập với thị trường thế giới đang mở rộng trước mắt.

0601.jpg

Dấu hiệu mùa Xuân

Ở Mỹ, hàng năm cứ đến mùa Thanksgiving (Lễ Tạ Ân) vào cuối tháng 11 dương lịch, không khí "Tết" lại bắt đầu nhộn nhịp hẳn lên để chuẩn bị đón Lễ Giáng Sinh (Christmas) và Tết Tây (New Year). Khái niệm "Tết" trong sinh hoạt văn hoá và xã hội truyền thống Việt Nam không có từ hay cụm từ tương đương nào trong ngôn ngữ phương Tây để dịch ra. Đấy là một khái niệm vừa cảm tính vừa nhân văn; vừa tâm lý, vừa xã hội để nói lên một dịp lễ hội trọng đại nhất trong năm. Không có biên giới của cá nhân, đoàn thể, giai cấp, chính trị, tôn giáo... mà chỉ có thuần túy một cảm giác nô nức, vui tươi, chan hòa để mở rộng cửa, mở rộng lòng, mở rộng hai tay để chào đón; dẫu cho có: "Khóa cửa, che rào Xuân vẫn tới. Nằm im, nhắm mắt, Tết đang qua"!

Tại châu Âu và châu Mỹ ngày nay, lễ Giáng Sinh không còn là ngày lễ tôn giáo dành riêng cho những người theo đạo Thiên Chúa. Đa số người thuộc mọi giống dân trên toàn thế giới chung vui trong dịp lễ Giáng Sinh đều xem như đây là một ngày tương đương với ngày lễ lớn nhất trên quê hương gốc của họ. Riêng người Việt, nhất là người Việt thuộc thế hệ thứ nhất đang sống xa quê hương khắp năm châu, vẫn thường mang cảm giác "trộn lẫn bản sắc" (identity mix-up) trong thời điểm cuối năm như thế nầy. Cùng với người bản địa, người Việt cũng mở rộng tâm hồn và cửa nhà để đón lễ Gìáng Sinh; cũng hoa đèn, quà cáp, họp mặt chung vui với người hàng xóm, với thế hệ con cháu (thế hệ thứ hai, thứ ba). Nhưng tự trong sâu thẳm của lòng mình vẫn còn vương mang bên cạnh cái hương vị, cái không khí, cái cung cách, cái tâm linh thiêng liêng, cái hồn phách độc đáo... của ngày Tết cổ truyền ở quê nhà.

Trong khoảng 10 năm trở lại, sau mùa Giáng Sinh ở Mỹ, không khí Tết truyền thống Việt Nam bắt đầu ló dạng tại các chợ thực phẩm Á Đông và trong các khu phố Tàu. Nơi đâu có thương mãi, nơi đó có cạnh tranh. Mỹ là một nước đa chủng tộc, nên ngoài sự cạnh tranh giữa các công ty sản xuất trong nước và trên toàn thế giới, còn có sự cạnh tranh trong nội bộ giữa các vùng văn hóa kinh tế. Kinh tế và văn hóa trở thành kinh-tế-văn-hóa (cultural economy), một chuyên ngành tại xã hội đa chủng tộc của Mỹ. Những vùng văn hoá có đặc tính chung chung giống nhau thì sản phẩm kinh tế cũng có nhiều mặt hao hao giống nhau. Như khu chợ thực phẩm Á Đông chẳng hạn là một thế giới thực phẩm riêng của người Á Đông. Trong chợ Á Đông lại phân ra đặc tính của từng dân tộc. Khu nước mắm, mắm cà, mắm nục, mắm nêm, ruốt... thì chỉ dành riêng cho người Việt mà người Tàu (dùng xì dầu thay vì nước mắm) không hề đụng tới. Khu thịt khô, mắm cá của người Miên, người Lào thì người Việt không hề rờ tới. Khẩu vị riêng biệt, thức ăn riêng biệt của mỗi dân tộc cũng là một phần nội dung văn hóa của dân tộc đó.

Tuy nhiên, giới kinh doanh với tâm lý thị trường nhạy bén thường "bắt mạch" rất đúng nhịp độ cung và cầu của sản phẩm vật chất. Chẳng hạn như nước mắm cũng có hàng chục loại khác nhau. Xì dầu (có nơi còn gọi là nước tương hay tàu vị iểu) đến từ Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, Thái Lan.

Trong vòng từ 10 năm qua, hàng hóa Việt Nam bắt đầu xuất hiện trên thị trường nước Mỹ. Người Việt Nam xa quê hương sau năm 1975 mang theo trong hành trang đời mình ba gói hạt giống. Dẫu có để quên bao nhiêu năm, hạt giống cũ vẫn chờ chực nẩy mầm. Đấy là hạt giống thị trường, hạt giống ân tình và hạt giống chính trị. Hàng hóa Việt Nam xuất cảng vào các nước Âu Mỹ đã làm vườn ương cho hạt giống nẩy mầm.

Người Việt nào xa quê hương mà không bồi hồi xúc động khi có những mặt hàng Việt Nam mới mẽ, e dè, khiêm tốn gần như lạc loài chen chân trong rừng hàng hóa thế giới. Lật trên bìa hộp, trên cổ áo, dưới đáy ve chai có ghi dòng chữ "Made in Vietnam" (Chế tạo tại Việt Nam) đã làm cho hạt giống ân tình nảy mầm. Nhìn sản phẩm Việt Nam, người ta nghĩ đến hình ảnh quê nghèo với người dân hiền hòa lao động. Người nông dân dầm dãi nắng mưa để làm ra hạt gạo. Người ngư dân vật lộn với biển cả để đánh bắt cá tôm. Người thợ thủ công còng lưng làm ra vật dụng. Nghĩ đến dân mình, người Việt xa quê nào mà không nuôi ước mơ ngày đất nước đứng lên và người dân trỗi dậy cạnh tranh tài năng của những bàn tay và khối óc trên thị trường quốc tế. Thế nhưng chút hăm hỡ ân tình bỗng chững lại khi liên tưởng tới cái bóng dày đặc sừng sững của thế lực chính trị đang ngự trị ở quê nhà. Không ai tránh được cảm giác ray rứt, bi phẫn trước cảnh những chiếc xe hơi trị giá hàng trăm nghìn đô la, những biệt thự lộng lẫy vẫn phe phẩy xuất hiện bên cạnh đời sống nghèo khó của đa số quần chúng. Sự phồn vinh bất thường xuất hiện như một sự thách đố của phi lý đang nheo mắt nhìn công lý. Theo ước lượng của phóng viên Figaro, Herman Dullus thì trên dưới từ 1.5 % đến 2% dân số Việt Nam hiện nay đã vô hình chung tự xếp vào hàng thượng lưu (High Class) tập trung tại các thành phố lớn. Họ có một cuộc sống vật chất phè phỡn, thỏa mãn, tự tôn, tri ân cuộc đổi đời bên cạnh cuộc sống còn lầm than, cơ cực của 98% số dân còn lại. Giữa mùa Giáng Sinh năm 2005, một tô phở tại khách sạn 5 sao ở Sài Gòn như Rex, New World là 10 đô-la Mỹ, trong lúc một tô phở bình dân hè phố là 20 xu. Khoảng cách giữa người nghèo và người giàu cách xa nhau không chỉ là số đếm của đồng tiền thu nhập mà còn là hệ quả của kinh tế và xã hội thiếu cân đối của hiện tình Việt Nam. Nếu không khéo điều hòa, xã hội Việt Nam có nguy cơ chuyển thành một xã hội quý tộc và bình dân như xã hội Âu Châu thời tiền Karl Marx.

Tâm lý thị trường là một nguồn tổng hợp rất linh động. Cái khéo của nhà sản xuất phải bắt gặp tần số tâm lý hứng khởi tiếp nhận của giới tiêu dùng. Hàng hóa Việt Nam từ căn bản đã bị mất đi sức hút ân tình và thoáng rộng của đồng hương như người Nhật, người Nam Hàn, người Đài Loan… đối với đồng bào, đồng hương của họ.

Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu về các mặt hàng tiểu phẩm công nghiệp, điện tử và tiêu dùng hàng ngày trên thị trường nước Mỹ. Ưu điểm chính của hàng hoá Trung Quốc là chạy đuổi kịp thời và sáng tạo liên tục dựa trên nhu cầu của khách tiêu dùng.

Sự khác biệt rất cơ bản giữa mặt hàng Việt Nam và mặt hàng Trung Quốc là tính sáng tạo và sự nắm vững được nhu cầu của khách hàng để đáp ứng kịp thời.

Về hình thức, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam nhìn cũng trang nhã và mỹ thuật không thua gì các quốc gia khác. Nhưng độ bền và sự sáng tạo thay đổi kịp thời (cập nhật) lại không cạnh tranh được với hàng Trung Quốc. Giới tiêu thụ các mặt hàng phục vụ tiện nghi hàng ngày của Trung Quốc tại Mỹ phải ngạc nhiên trước sự thay đổi cập nhật của các công ty sản xuất từ những cây tăm xỉa răng, chổi quét nhà đến các mặt hàng điện tử cao cấp. Tâm lý phổ biến nhất của giới tiêu thụ Âu Mỹ là tiện lợi (convenient), tươi mới (fresh) và giá cả phải chăng (reasonable).

Một thí dụ nhỏ về nét tiện lợi của mặt hàng. Có những nét riêng, rất nhỏ, trong một sản phẩm nhưng lại có tác dụng lên toàn thể mặt hàng. Như ba năm trước có một nhận xét là áo quần do Việt Nam sản xuất đơm nút áo, nút quần không kỹ. Tôi đã thử mua mấy chiếc áo sơ-mi mang nhãn hiệu "Made in Vietnam" tại tiệm Mervyn's là nơi bán hàng may mặc cỡ trung bình tại Mỹ. Quả thật là chỉ sau mấy tháng đã có hai nút áo bị sút chỉ, trong lúc áo các nước khác sản xuất đã cũ mà nút áo vẫn còn chắc. Tại Mỹ, một chiếc áo sứt khuy, đứt nút thường bỏ luôn cả chiếc áo vì người Mỹ rất lười về chuyện kim chỉ.

Một thí dụ khác về sự tươi mới mà hàng Việt Nam không chuyển đổi kịp là tranh thêu và tranh sơn mài Việt Nam nhập vào các nước phương Tây. Một thời, tranh thêu và tranh sơn mài Việt Nam rất được ưa chuộng tại Mỹ. Nhưng nội dung các bức tranh vẫn khai thác lập đi lập lại các nội dung đã quá cũ mòn như Mai, Lan, Cúc Trúc; Ngư, Tiều, Canh, Mục... cộng thêm với kỹ thuật mỗi ngày một xuống cấp. Kết quả là thị trường Mỹ ngày nay hầu như vắng bóng tranh thêu và tranh sơn mài Việt Nam trong khi các loại tranh thư pháp của Trung Quốc, tranh khảm của Đại Hàn, Nhật Bản vẫn còn được ưa chuộng.

Về mặt giá cả, có một chút gì đó chưa hợp lý về giá cả của các mặt hàng Việt Nam trên thị trường nước ngoài. Tất nhiên, luật cung (supply) cầu (demand) vẫn là then chốt trong việc thẩm định giá trị và ấn định giá cả của mặt hàng. Nhưng bối cảnh kinh tế (economic background) vẫn cần thiết được cân nhắc kỹ lưỡng. Thí dụ như bia 33 của Việt Nam mới có mặt trên thị trường Mỹ không lâu so với các loại bia nhập khẩu khác như Heinekein của Thụy Điển, Singtao của Trung Quốc, Ashahi của Nhật, Corona của Mexico... Nhưng giá bia 33 Việt Nam lại ngang giá và có khi đắt hơn các lọai bia vừa kể. Các loại thực phẩm đông lạnh của Việt Nam từ trái cây đến tôm cá đều có giá cả không ổn định làm cho khách hàng có khi bị bỡ ngỡ trước sự thay đổi giá cả quá nhanh. Giá cả không ổn định là do thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa nguồn cung ứng, lực lượng trung gian và nơi bày bán. Tâm lý thị trường ở Việt Nam thường là một khuynh hướng tiêu dùng tự nhiên, nhưng tâm lý thị trường ở phương Tây là do hướng dẫn và quảng cáo. Tâm lý người tiêu thụ tại Mỹ thường rất "bạc bẽo". Họ không trung thành với mặt hàng hay nhãn hiệu nào hết mà chỉ trung thành với nhu cầu và thị hiếu (có khi rất nhất thời) của mình mà thôi.
Gần Tết, ra chợ Á Đông tại Mỹ, Pháp, Canada hay Úc, khách tiêu thụ sẽ thấy có một sự cạnh tranh thầm lặng nhưng gay gắt về các mặt hàng Tết của các nước châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam. Nhìn kỹ mứt, bánh, kẹo, trà, rượu, thức ăn... của các quốc gia khác nhau bày bán bên cạnh nhau trên cùng một quầy hàng cùng loại mới thấy được mối tương quan giữa "ta" và "người". Thị trường cũng là một chiến trường về mặt kinh tế. Trong đó, chiến lợi phẩm là khả năng tiêu thụ, mức độ sản phẩm bán ra thị trường và chiến lược là độ nhạy trong việc nắm bắt được tâm lý ưa chuộng của khách hàng.

Từ những nhận xét nhỏ về việc sắm Tết, mua hàng hóa trong các chợ thực phẩm Á Đông, chúng ta nhìn xa hơn vào lĩnh vực tâm lý thị trường. Khái niệm thị trường không chỉ giới hạn trong việc mua bán, đổi chác hàng hóa mà còn là một sinh hoạt mang tính chất tác động qua lại trong bất cứù lĩnh vực nào vì lĩnh vực nào cũng không vượt ra ngoài quy luật sinh hoạt cung cầu. Người Việt Nam vẫn thường có câu nói bình dân để chỉ sự bận rộn là, "Một chân bước ra, ba chân bước lại". Đấy cũng rất có thể là một loại tâm lý phổ biến của cung cách văn hóa tiểu nông chưa hội nhập được với văn hóa thị trường. Mắt thì nhìn về tương lai mà não trạng thì vẫn dính mắc và quay về với quá khứ.

Nếu có một lời cầu chúc vừa đẹp vừa thực tế cho Năm Mới thì chỉ xin cầu chúc rằng, Việt Nam và thế hệ trẻ sẽ "Một chân bước ra, ba chân bước tới" trong nỗ lực tiếp cận và hội nhập với thị trường thế giới đang mở rộng trước mắt.

Trần Kiêm Đoàn

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:

Ý kiến của bạn:

Vui lòng nhập vào Tiếng Việt có dấu:
Tên người gửi:(*)
Địa chỉ:
Email:(*)
Nội dung:(*)  
Gửi file đính kèm (mỗi file có kích thước tối đa 1MB):




  
Nhập vào mã:
 


    

Các tin đã đăng:
Thư Ngỏ xây dựng Tổ Đình Đông Hưng
Thư ngõ của Chùa Huệ Quang
Thêu Máy Mỹ Nghệ Kỳ Duyên
Chương trình Hành Hương Từ Thiện
Powered by Sacomtec
Giấy phép số 109/GP-BC do Bộ VHTT cấp ngày 19/03/2008. Tổng biên tập: HT. Thích Trí Quảng.