03/04/2008 11:27 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Giáo giới Cấp Cô Độc và Giáo giới Channa

A. KINH GIÁO GIớI CẤP CÔ ĐỘC   (Kinh số 143.Anathapindikovàdasuttam - Discourse on An Exhortation To Anathapindika)

I. Giải thích từ ngữ

(Các từ ngữ quen thuộc).

II. Nội dung kinh 143

1. Lúc Thế Tôn đang trú ở tịnh xá Cấp Cô Độc, Thắng Lâm, thành Xá Vệ (Sàvatthì), bấy giờ cư sĩ Cấp Cô Độc lâm bệnh rất nặng; cư sĩ sai người nhà đến thay mặt cư sĩ đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và đến đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sàriputta; dâng lời bạch xin Tôn giả Sàriputta đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc, Tôn giả im lặng nhận lời đi đến thăm cư sĩ với Tôn giả Ànanda.

2. Sau khi thăm hỏi bệnh tình, Tôn giả Sàriputta đã thuyết pháp cho cư sĩ, bao gồm các pháp:
2.1. Nói rõ không chấp thủ 18 giới: cần học tập.
2.2. Không chấp thủ sáu xúc: cần học tập.
2.3. Không chấp thủ 18 thọ: cần học tập.
2.4. Không chấp thủ 5 đại (địa, thủy, hỏa, phong và không đại): cần học tập.
2.5. Không chấp thủ Ngũ uẩn: cần học tập.
2.6. Không chấp thủ Tứ không định: cần học tập.
2.7. Không chấp thủ thế giới này, và các thế giới khác: cần học tập.
2.8. Không chấp thủ các sở kiến, sở văn, sở xúc, sở cầu, sở tri: cần học tập.

3. Cư sĩ Cấp Cô Độc giác ngộ, xúc động và khóc, tán thán là bài pháp lợi ích mà cư sĩ chưa từng nghe. Sau khi hai Tôn giả ra về không bao lâu, cư sĩ xả báo thân và liền được sinh về Đâu Suất Thiên (Tusità). Ngay hôm đó, khi đêm gần mãn, Thiên tử Cấp Cô Độc xuất hiện trước Thế Tôn đảnh lễ và nói kệ tán thán Thế Tôn. Thế Tôn thuật lại câu chuyện Thiên tử Cấp Cô Độc cho chúng Tỷ kheo nghe.

Bấy giờ Tôn giả Ànanda bạch: “Cư sĩ Cấp Cô Độc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sàriputta".

III. Bàn thêm

1. Với công đức hộ trì Thế Tôn và Giáo hội thời Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc đã có lòng tịnh tín bất động đối với Thế Tôn và đối với Tôn giả Sàriputta - nói khác, cư sĩ đã được xác nhận đắc Tu đà hoàn lúc sinh tiền, nhưng vẫn lâm bệnh nặng trước lúc mệnh chung. Không thể dựa vào cơn bệnh để nghi ngờ công đức hộ trì Chánh pháp và công đức tu tập giải thoát của cư sĩ, ở đây, cần liên hệ với nhiều cơn đau nghiệt ngã của nhiều Đại Tôn giả đã đắc A la hán, với sự kiện Tôn giả Pukkusati (đắc A na hàm) bị bò điên húc, v.v... để thấy rằng: chánh trí, chánh kiến, chân tu độc lập với cái bệnh, không bệnh trước lúc mệnh chung: có thân thì có thể có bệnh nặng ở bất cứ thời điểm nào trong đời sống. Vấn đề đáng quan tâm suy nghĩ là có giác tỉnh hay không giác tỉnh lúc mệnh chung. Có ý kiến ngộ nhận cho rằng bệnh như vậy là do ít tu, ít phúc, nghiệp nặng...

2. Thời Pháp của Tôn giả Sàriputta có tác dụng đánh thức trí tuệ, giác tỉnh của cư sĩ rời khỏi chấp thủ, tham ái hầu tạo một cận tử nghiệp tốt, giải thoát.

Thực sự, sự hiện diện của Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Ànanda đã đủ làm sống dậy đạo niệm và sự giác tỉnh của một đời hộ trì Phật pháp của cư sĩ. Bấy giờ là lúc cư sĩ dễ thấy nhất sự tan rã của ngũ uẩn và của các pháp hữu vi. Do thấy rõ sự tan rã đó, tâm ly tham ái, và giải thoát đến.

B. KINH GIÁO GIỚI CHANNA (Kinh số 144. Channa vàdasuttam - Discourse on An Ekhortation to Channa)

I. Giải thích từ ngữ (Các từ ngữ quen thuộc).

II. Nội dung kinh Giáo giới Channa

1. Lúc Thế Tôn trú ở tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana), thành Vương Xá (Ràjagaha), Tôn giả Channa, đã đoạn trừ chấp thủ ngã, đang lâm trọng bệnh, rất đau đớn, Tôn giả muốn tự kết liễu mạng sống.

Tôn giả Sàriputta cùng Tôn giả Cunda đến thăm và khuyên Tôn giả Channa nhẫn nại chạy chữa thuốc thang (dược liệu), tiếp tục sống, nhưng Tôn giả Channa vẫn không thay đổi ý định kết thúc mạng sống của mình.

2. Tôn giả Sàriputta mạo muội xin ý kiến cho phép của Tôn giả Channa nêu lên một số câu hỏi xem Tôn giả Channa có nhìn vạn hữu: “Cái này không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta” không?

Tôn giả Channa xác nhận tự mình đã thấy như thế, đã thấy sự đoạn diệt trong 18 giới, trong sở kiến, sở văn, sở tri...

Tôn giả Sàriputta liền tiếp lời giáo giới: “Do vậy, này Hiền giả Channa, lời dạy này của Thế Tôn cần được tác ý: Ai có chấp trước là có dao động. Ai không chấp trước thì không dao động. Không dao động thì khinh an. Có khinh an thì không hy cầu; không hy cầu thì không khứ lai; không khứ lai thì không tử sinh; không tử sinh thì không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Như vậy là đoạn tận khổ đau”.

3. Sau khi từ giã Tôn giả Channa, tôn giả Sàriputta đã trình sự việc lên Thế Tôn. Thế Tôn dạy: Tôn giả Channa từ bỏ thân này, nhưng không chấp thủ thân khác; vì thế Channa không có phạm tội.

III. Bàn thêm

1. Đối với vị Tỷ kheo, tự sát cũng phạm tội sát. Nhưng với tâm không chấp thủ ngã, thực sự không chấp thủ thân nào khác, không tham ái, tham trước một thân nào khác thì không phạm tội. Tôn giả Channa biết tự mình đã đoạn trừ chấp thủ ngã, nên việc “đem đến con dao” là không phạm tội.

Tại đây, ý nghĩa phạm tội, phạm trọng giới được xác định nếu tâm hiện hữu tham ái, chấp thủ.

2. Có lẽ sau khi đặt các câu hỏi trắc nghiệm về sự thể chứng đoạn trừ chấp ngã của Tôn giả Channa, Tôn giả Sàriputta biết rõ sự thật đó nên yên tâm không ngăn cản việc Tôn giả Channa đòi “đem đến con dao”.

Sự việc trình lên Thế Tôn toàn bộ cuộc thăm viếng, đàm đạo với Tôn giả Channa và xin lời dạy của Thế Tôn là chỉ để cho Tăng chúng hiểu sự việc, và để trấn an các gia đình thân hữu đã từng hộ trì thân hữu Channa.

Không còn tham ái, chấp thủ thì không còn sanh xứ, nghĩa là vào Niết bàn. Vì thế, Thế Tôn chỉ xác nhận sự không phạm “tội sát” của Tôn giả Channa mà không nói đến sanh xứ của Tôn giả.

HT. THÍCH CHƠN THIỆN

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:
     
Thông tin tòa soạn
Liên hệ tòa soạn
Giác Ngộ số 1.020
Nguyệt san Giác Ngộ
Đăng ký mua báo Giác Ngộ 2019 - Văn hóa
Sách Giác Ngộ, cụm Văn hóa
Địa điểm phát hành GN, cụm Văn hóa
Liên hệ quảng cáo - Nhóm 1
Visitor
Visitor