01/05/2008 06:35 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Giáo dục Phật giáo theo hướng kế thừa & phát triển

Sự hồi phục mạnh mẽ của hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam (VBES) sau năm 1984 phản ánh rõ nét truyền thống và năng lực tri túc của cộng đồng Phật giáo Việt Nam. Nhưng VBES vẫn nhận ra sự tụt hậu của mình so với ngành giáo dục trong và ngoài nước về phương diện tầm vóc, chất lượng và độ hiện đại của các dịch vụ mà nó cung ứng.

Tác giả gợi ý rằng cộng đồng Phật giáo Việt Nam sẽ làm thế nào để một mặt đạt được nhận thức tốt hơn về những đóng góp của mình cho dân tộc cũng như cho thế giới bên ngoài và mặt khác tìm kiếm và nắm bắt thêm các cơ hội về hợp tác và đầu tư để gia tốc cho sự phát triển của VBES hài hòa và đồng bộ với những mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội của dân tộc Việt Nam và những lý tưởng của đạo Phật Việt Nam.

Phật tử và Tăng già Việt  Nam đã và đang kế thừa  hệ thống giáo dục Phật  giáo Việt Nam trong quá khứ. Trong đó nổi trội nhất là Đại học Vạn Hạnh và Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm với những thành quả mang tính lịch sử mà những Tăng sĩ xuất thân từ đó đạt được. Nhiều vị hiện đang là lãnh đạo của Phật giáo Việt Nam.

Trong tâm hồn của những vị lãnh đạo Phật giáo thì những ngày tháng ở Đại học Vạn Hạnh hay Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm luôn luôn là một kỷ niệm thân thương và đồng thời là một nguồn tự hào của một thời kỳ. Thật ra, không quá đáng khi nói rằng Đại học Vạn Hạnh hay Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm vẫn được xem là lý tưởng mà Đại học Phật giáo Việt Nam hiện nay đang vươn tới.

Suốt thời gian gần một thập niên trước năm 1975, Đại học Vạn Hạnh đã cung ứng những tiện ích và nhiều chuyên ngành đại học thuộc khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Sinh viên Đại học Vạn Hạnh đến từ khắp nơi của Nam Việt Nam và được ghi danh không phân biệt vị thế xã hội, nghề nghiệp, giới tính, sắc tộc và tôn giáo. Đại học Vạn Hạnh trong nền giáo dục của người dân Việt Nam nói chung đã thực hiện vai trò của mình một cách xứng đáng. Đã có người gợi ý nên tổ chức hội thảo để nhớ lại và kết tập lại những hiện vật cũng như những hiểu biết về Đại học Vạn Hạnh trong quá khứ, tương tự như điều đã được làm cho Đông Kinh Nghĩa Thục, một ngôi trường đã làm rạng danh cho nền văn hóa và giáo dục tiến bộ của Việt Nam thời Pháp thuộc trước khi bị thế lực của thực dân đóng cửa.

Xem lại lịch sử không phải chỉ để tránh những sai lầm mà còn để chúng ta chọn được hướng phát triển tốt nhất. Hay, như Khổng Tử nói, “Hãy nhìn lại lịch sử, nếu bạn muốn kính ngưỡng tương lai”.

Sau chiến tranh Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, cũng như mọi tổ chức khác đều thừa hưởng rất ít những tiện nghi và thiết bị giáo dục từ quá khứ và nền giáo dục Phật giáo đã trải qua một giai đoạn trì trệ gần một thập kỷ. Tuy nhiên, sự phục vụ của giáo dục Phật giáo dành cho người theo đạo Phật ở Việt Nam vẫn tìm hướng hoạt động trở lại, thậm chí xây dựng thành công và càng ngày càng phát triển Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, tiền thân của Đại học Phật giáo Việt Nam hiện nay.

Sự thành công của Trường Cao cấp Phật học Việt Nam đã tạo cảm hứng và yểm trợ cho việc thành lập nhiều trường Phật học khác khắp Việt Nam, phục vụ trình độ cơ bản hay những trình độ cao hơn của nền giáo dục tâm linh, đạo đức và khoa bảng. Trong hai thập kỷ sau đó, một mạng lưới quốc gia những cơ sở giáo dục Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ dưới sự dẫn dắt của Ban Giáo dục Tăng Ni, Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tính đến hoàn cảnh kinh tế khó khăn thời bấy giờ thì sự phát triển như vậy quả là có ý nghĩa.

Nhưng hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam trong nhiều phương diện vẫn còn tụt hậu so với tốc độ phát triển của xã hội Việt Nam khi thị trường và nền thương mại Việt Nam đã mở cửa thông với thế giới. Phương diện cần quan tâm là chất lượng kinh tế và chất lượng kỹ thuật của những ngành học, của những thiết bị và phương tiện giảng dạy, hầu hết đều trong tình trạng thiếu kém so với những cơ sở giáo dục khác ở trong nước và ở những nước phát triển hơn.
Những sinh viên đã tốt nghiệp từ nền giáo dục Phật giáo, kể cả những vị nổi trội nhất đều có những hồi ức vui buồn lẫn lộn về nền giáo dục này. Những vị thành công nhất chủ yếu là do dựa vào sức nỗ lực và sức mạnh tâm linh phi thường. Và đã có đề nghị rằng hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam có thể được cải thiện nhờ vào sự đầu tư lớn hơn hướng đến 3 mục tiêu chính yếu sau đây:

1. Đầu tư để giảng viên có nhiều công trình nghiên cứu hơn hay nhiều kinh nghiệm hơn hay được đào tạo theo những tiêu chuẩn thế giới.

2. Đầu tư để khâu tuyển sinh vào trường và khâu tốt nghiệp ra trường dựa trên những tiêu chí thông thoáng và bền vững hơn, đồng thời phù hợp với những chuẩn mực của nền giáo dục Việt Nam và quốc tế.

3. Đầu tư vào những tiện ích phục vụ giáo dục như thư viện, giảng đường, lớp học, phòng nghiên cứu, nhà thể dục, khu nội trú... rộng rãi hơn, được trang bị tốt hơn song song với việc có những đầu tư tối thiểu nhằm bảo vệ sinh viên, các phân khoa và nhân sự giáo dục chống lại tình trạng thời tiết càng lúc càng khắc nghiệt hiện nay.

Với những mục tiêu như vậy thì bước đầu tiên và cơ bản là nâng cấp học vị cũng như năng lực của đội ngũ giảng dạy. May mắn là bước đầu tiên này đã được thực hiện từ năm 1992 khi Phật giáo Việt Nam ủng hộ cho một số Tăng Ni được tuyển chọn đi du học nhằm nâng cấp kiến thức và kinh nghiệm giảng dạy, trước hết là ở Ấn Độ, sau đó là Trung Quốc, Đài Loan, và những vùng lãnh thổ khác; gần đây nhất là Nhật Bản và Hoa Kỳ. Tuy rằng còn nhiều việc cần phải làm để cho hệ thống giáo dục của Phật giáo Việt Nam đuổi kịp phần còn lại của thế giới, dù vậy đội ngũ giảng viên của Đại học Phật giáo Việt Nam hiện nay nhiều vị đã có học vị tiến sĩ được quốc tế công nhận và rõ ràng là chất lượng giảng dạy của trường đã được cải thiện đáng kể.

Mục tiêu thứ hai là điều hành khâu tuyển sinh và khâu thi tốt nghiệp ra trường. Việc này có thể được thực hiện thành công với sự nỗ lực của Giáo hội và qua sự hợp tác với những tổ chức giáo dục và những nhà quản lý giáo dục trong nước và ngoài nước.

Mục tiêu thứ ba là cải thiện những phương tiện, những trang thiết bị và những nguồn tư liệu hay những vật lực khác để phục vụ giáo dục. Mục tiêu này khó có thể được thực hiện đầy đủ nếu chỉ dựa vào sức cúng dường và sức ‘công quả’ của Tăng Ni Phật tử và những vị lãnh đạo. Ngoài những nguồn vật lực phục vụ giáo dục từ mạng lưới Internet, một nguồn vật lực, tư liệu rẻ tiền và lúc nào cũng sẵn sàng cung cấp, chỉ hiềm một nỗi là thiếu đồng bộ, không nhất quán, có nhiều khi là hỗn tạp.

Để đủ kinh phí mà nền giáo dục ngày nay cần sử dụng thì phải có mức độ đầu tư. Cụ thể là đầu tư cho những phòng học hiện đại, thư viện, thính đường, phòng học, khu thể thao, ký túc xá, văn phòng hành chánh, sách vở, vi tính, trang thiết bị thính thị và những trợ giúp khác. Hiện nay ở hầu hết những cơ sở giáo dục Phật giáo, những đầu tư như vậy rất thiếu, nhiều khi là hoàn toàn không có. Và, hầu như không ai cho rằng Phật giáo Việt Nam có khả năng tự cung ứng nguồn kinh phí như vậy.

Đối với những nguồn đầu tư từ trong nước và từ nước ngoài, Việt Nam trong tư thế là một dân tộc đã thành công một cách đáng khâm phục trong việc tìm kiếm, tìm thấy và phân bổ những nguồn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục. Nhưng những nguồn đầu tư này nói chung chưa đụng chạm gì đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đại diện duy nhất cho Phật giáo Việt Nam, đang được hưởng quy chế tương đối tự trị, cách ly với nhiều chương trình của Nhà nước, một quy chế mà Phật giáo Việt Nam với tư cách là một tổ chức tâm linh rất trân trọng.

Dẫu sao, hiện trạng tương đối thiếu đầu tư dù là từ trong nước hay từ nước ngoài vào hệ thống giáo dục Phật giáo của Việt Nam có thể có nguyên do từ nếp nghĩ truyền thống của Phật giáo: “hãy xuất phát từ nơi mà bạn đang đứng” và thường được giải thích với hàm ý cho rằng hãy biết đủ và tránh đòi hỏi sự giúp đỡ của người khác. Trong khi câu “Hãy bắt đầu xử lý những thiếu thốn nơi bạn từ điểm chúng xuất phát” vẫn còn là lời khuyên dành cho cá nhân và cộng đồng, thì lý tưởng biết đủ đôi khi lại phát triển quá đà đến mức cực đoan và cuối cùng làm hại cá nhân lẫn cộng đồng. Trong thời đại mà hiện tượng toàn cầu hóa đã trở nên phổ quát không những trong ngành truyền thông và thương mại mà còn trong ngành kinh doanh và giáo dục thì ý tưởng mang tính cực đoan về sự tự đầy đủ có thể nhanh chóng dẫn đến tình trạng cá nhân hay cộng đồng bị tổn hại thậm chí là tình trạng tự diệt.

Nguyên lý duyên khởi của đạo Phật một cách thú vị đã được John Donne, nhà thơ siêu hình người Anh thời Shakespeare diễn đạt qua câu: “Không có ai là một hòn đảo, tự đầy đủ,” Thật vậy, không có một cư sĩ nào, Tăng sĩ nào, vị Ni nào là hoàn toàn tự đầy đủ. Ngay cả một nhà sư hay một vị Ni khổ hạnh còn phải nương nhờ vào ngôi   Tam bảo, Phật, Pháp và Tăng. Phật và Pháp cung cấp cho vị ấy những hướng dẫn tâm linh và những nhận thức sâu xa khác. Phật tử, những vị lãnh đạo Phật giáo và Tăng Ni, tất cả có thể gọi chung là Tăng già, thường cung cấp cho vị ấy những nhu yếu như thức ăn, quần áo và chỗ ở. Ngay cả trong thời cổ đại vẫn rất hiếm hoi những vị Tăng hay Ni có thể sống tu tập mà không nhờ vào lòng từ ái và sự đóng góp, gọi chung là “đầu tư tâm linh” của tứ chúng, kể cả những người ngoài tứ chúng.

Ngày nay, Lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc cử hành ở Việt Nam lại có tác dụng nhấn mạnh hơn nữa rằng không phải giới cư sĩ Phật giáo Việt Nam, cũng không phải những vị Tăng hay Ni, ngay cả tổng thể Phật giáo Việt Nam là “một hòn đảo, tự đầy đủ”. Phật giáo Việt Nam đã và đang luôn luôn là người có những cống hiến về nhiều phương diện cho xã hội, cho Phật giáo thế giới và cho cộng đồng thế giới; Phật giáo Việt Nam đồng thời cũng đã và đang là người nhận lại những thành quả từ xã hội và thế giới nói chung.

Phật giáo Việt Nam và những hệ thống giáo dục mà Phật giáo Việt Nam đã xây dựng được từ suốt quá trình lịch sử đã có những cống hiến không thể phủ nhận được cho sự phát triển và duy trì sự ổn định của xã hội Việt Nam; phát triển và duy trì trí tuệ và tính thống nhất của dân tộc Việt Nam.

Điều đáng ghi nhận là xã hội Việt Nam trong thời gian dài trước đây không có nguồn tư vấn tâm lý rộng khắp dành cho công nhân, nhà quản lý, công chức, gia đình và ngay cả những tội phạm như những nước phát triển hơn; trong suốt thời gian đó Tăng già Việt Nam đã tích cực thực hiện vai trò quan trọng này, nâng đỡ và duy trì sự bình ổn và trạng thái tâm lý lành mạnh, nâng đỡ và duy trì mặt bằng đạo đức cho nguồn nhân lực của nền kinh tế Việt Nam. Như vậy, Phật giáo Việt Nam không cần phải ngại trong việc tìm kiếm nguồn đầu tư từ xã hội Việt Nam nói chung. Cả hai bên đều được hỗ tương lợi lạc.

Phật giáo Việt Nam đã gửi ra thế giới những nhà tư tưởng, những vị đạo sư tốt nhất, xán lạn nhất, không những làm phong phú thêm cho hàng ngũ Tăng già quốc tế mà còn cho cả thế giới nói chung. Những vị này thường thành lập nên những cộng đồng Phật giáo mới có tác dụng tích cực về nhiều phương diện, thậm chí thành lập nên những tông phái Phật giáo mới ở những quốc gia khác. Như vậy, Phật giáo Việt Nam không cần phải ngần ngại trong việc tìm kiếm, chấp nhận và sử dụng những nguồn đầu tư từ nước ngoài. Những nguồn đầu tư như thế cuối cùng sẽ làm lợi lạc không những cho những nhà đầu tư và Phật giáo Việt Nam mà còn làm lợi lạc cho đất nước Việt Nam và thế giới nói chung.

Tất cả điều trên không hề có nghĩa là Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ tiếp nhận mọi dạng cúng dường, mọi dạng đầu tư cho nền giáo dục Phật giáo từ bất cứ ai, với bất cứ điều kiện nào. Mọi nhà đầu tư với đề nghị đầu tư vào hệ thống giáo dục Phật giáo cần phải được cân nhắc thận trọng xem có phù hợp với hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam, phù hợp với những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của dân tộc Việt Nam hay không, dù là dạng đầu tư ngắn hạn, trung bình hay dài hạn.

Ngày nay, hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam tương đối đã có thể đáp ứng được những yêu cầu ngắn hạn của nó, cụ thể như sự phát triển của các ngành học và những nguồn vật lực phục vụ giáo dục căn bản. Mối quan tâm chủ yếu hiện giờ là làm thế nào đẩy mạnh sự đóng góp và nguồn đầu tư dài hạn, có được nguồn kinh phí dành cho việc kiến trúc, xây dựng, sắm sửa những trang thiết bị và nguồn vật lực đáp ứng được việc dạy và học ở cấp cao hơn. Nói chung, những dự án ngắn hạn hầu kiếm được lợi nhuận nhanh chóng hay gây xôn xao thì không nên tiếp nhận, dĩ nhiên trừ trường hợp những đề án này có thể đẩy mạnh và làm phong phú cho những mục tiêu về đạo đức, tâm linh và tuệ giác cứu cánh của nền giáo dục Phật giáo.
Giáo hội không cần phải ngần ngại trong việc tìm kiếm nguồn đầu tư. Tương tự, Giáo hội cũng không cần phải ngần ngại trong việc tìm kiếm sự trợ giúp hay tư vấn về cách làm thế nào để thúc đẩy đầu tư, ký được hợp đồng và giải ngân một cách tốt nhất, dù đối tác với các nhà tư vấn đầu tư hay các nhà chiến lược đầu tư, dù là bên trong nước hay từ ngoài nước, thuộc chính phủ hay phi chính phủ.

Cuối cùng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam phải được quyền ưu tiên trong việc đánh giá mỗi một nguồn đóng góp hay đầu tư vào hệ thống giáo dục Phật giáo dựa trên những tiêu chí chung mà Giáo hội cũng áp dụng cho chính mình: phù hợp với Giáo pháp và đạo đức Phật giáo. Cần nhấn mạnh một lần nữa rằng những vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam có đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ này và nền giáo dục Phật giáo Việt Nam xứng đáng được những nhà bảo trợ và những nhà đầu tư trong nước và trên thế giới quan tâm một cách ưu ái.

TT. MINH THÀNH Ph.D

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:
     
Thông tin tòa soạn
Liên hệ tòa soạn
Giác Ngộ số 1.034
Nguyệt san Giác Ngộ
Đăng ký mua báo Giác Ngộ 2020 - Văn hóa
Sách Giác Ngộ, cụm Văn hóa
Địa điểm phát hành GN, cụm Văn hóa
Liên hệ quảng cáo - Nhóm 1
Visitor
Visitor