03/05/2008 07:29 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Xung đột và giải pháp Phật giáo

Xung đột là chuyện thường tình ở bất cứ nơi đâu và ở bất cứ khi nào. Nó thường xảy ra trong mỗi con người, mỗi gia đình hay trong một phạm vi lớn – giữa những sắc tộc hay giữa những quốc gia; và mỗi khi như vậy thì nó dẫn đến khổ đau hay thậm chí đưa đến tận thế! Vì vậy, xung đột là một vấn đề lớn của nhân loại và một giải pháp về nó là một điều phải được đề ra.

Xung đột là chuyện thường tình ở bất cứ nơi đâu và ở bất cứ khi nào. Nó thường xảy ra trong mỗi con người, mỗi gia đình hay trong một phạm vi lớn – giữa những sắc tộc hay giữa những quốc gia; và mỗi khi như vậy thì nó dẫn đến khổ đau hay thậm chí đưa đến tận thế! Vì vậy, xung đột là một vấn đề lớn của nhân loại và một giải pháp về nó là một điều phải được đề ra.

Trong đạo Phật, xung đột – có nguồn gốc từ những hý luận-vọng tưởng – được xem là một pháp hữu vi và bất thiện, và nó cần phải được chuyển hoá. Trong 45 năm thuyết pháp của Ngài, Đức Phật tuyên bố rõ ràng về hai điều: khổ và diệt khổ. “Ồ các tỷ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ thuyết giảng về khổ và diệt khổ.”[1]

Trong bài pháp đầu tiên tại Ba La Nại cách nay khoảng hai nghìn năm trăm năm, Đức Phật chỉ ra nguyên nhân của khổ đau chính là tham ái hay sâu xa là tà kiến. Ở một bài pháp khác, Ngài dạy rằng, một người trí không còn hý luận-vọng tưởng thì không có tranh chấp với một ai ở đời:

“Này các tỷ kheo, dù bất kỳ nguyên nhân nào khiến hý luận vọng tưởng tấn công một người mà người ấy không hoan hỉ, không chào đón, không nắm giữ thì ở đấy có sự đoạn tận của những tuỳ miên: tham, sân, kiến, vô minh, chấp gậy, chấp kiếm, tranh cải, tranh chấp, xung đột, xung khắc, buộc tội, phỉ báng, nói dối. Bằng những cách này thì những trạng thái ác, bất thiện được chấp dứt không còn dư tàn.”[2] 

Một thái độ như vậy sẽ dập tắt mọi tranh cải, tranh chấp, chiến tranh và tất cả những pháp bất thiện. Lời dạy của Ngài đã được khéo giải thích bởi Ca Chiên Diên, một đệ tử của Ngài, như sau:

“Nhãn thức khởi lên do mắt và sắc; sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc, rồi xúc duyên sinh cảm thọ; cảm thọ duyên sinh tưởng; tưởng duyên sinh suy tư; suy tư duyên sinh hý luận-vọng tưởng, rồi chúng tấn công một người thấy sắc trong quá khứ, trong tương lai, trong hiện tại. Và nhĩ thức khởi lên do tai và tiếng … Và tỉ thức khởi lên do mũi và hương … Và thiệt thức khởi lên do lưỡi và vị … Và thân thức khởi lên do thân và xúc … Và ý thức khởi lên do tâm và tâm pháp. Sự gặp gỡ của cả ba pháp này là xúc, rồi xúc duyên sinh cảm thọ; cảm thọ duyên sinh tưởng; tưởng duyên sinh suy tư; suy tư duyên sinh hý luận-vọng tưởng, rồi chúng tấn công một người ý thức tâm pháp trong quá khứ, trong tương lai, trong hiện tại.”[3]

Ca Chiên Diên cũng thêm rằng khi không có sự gặp gỡ của ba pháp thì không có sự tấn công của hý luận-vọng tưởng.

Và những ai bị hý luận-vọng tưởng sai khiến thì có tà kiến. Đức Phật nói rằng, thế giới thường đặt quan điểm của mình vào hai điều, hiện hữu và không hiện hữu. “Có” là một thái cực; “không có” là một thái cực khác. Do tham đắm chúng mà thế giới bị trói buộc. Vị thánh giả siêu việt cái giới hạn của sự tham đắm này. Tránh xa hai thái cực, Như lai thuyết giảng Pháp Trung đạo, theo đó mà chân lý được tìm thấy:

“Này Ca Chiên Diên, phần đông thế giới bị trói buộc bởi sự tiếp cận, sự nắm giữ và thiên hướng. Và người không theo đuổi sự tiếp cận và nắm giữ đó, sự quyết định của tâm đó, sự thiên hướng và tánh khí đó, người ấy không khư khư với quan điểm của mình: ‘Đây là của tôi.’ Vị ấy nghĩ: ‘khổ do duyên sinh đang khởi lên; khổ do duyên diệt đang chấm dứt.’ Một người như vậy sẽ không còn nghi ngờ, không còn giao động. Ở đây, nhận thức của vị ấy không bị phan duyên. Do vậy, này Ca Chiên Diên, có ‘chánh kiến.’

‘Các pháp hiện hữu,’ – đây, Ca Chiên Diên, là một cực đoan.
‘Các pháp không hiện hữu,’ – đây, Ca Chiên Diên, là một cực đoan thứ hai.
Này Ca Chiên Diên, không tiếp cận cả hai cực đoan, Như lai giảng cho ngươi về học thuyết Trung đạo.”[4]

Pháp ấy, theo Long Thọ (Nāgārjuna) – nhà tư tưởng và diễn giảng hàng đầu của Phật giáo, được gọi là Śūnyatā (không tánh). Theo ngài, không-tánh có nghĩa là các pháp bất khả đắc (aprāptvya-śūnyatā). Các pháp hiện hữu một cách tạm thời và không có gì là thường hằng theo luật Duyên sinh (Pratītyasamutpāda). Hiện hữu chỉ tạm thời và không cố định. Ngay cả không hiện hữu cũng chỉ tạm thời và không cố định. Vì vậy, cả hai đều không thực hữu và không thực không. Phủ định những tà kiến và tham đắm vào bất cứ cái gì kể cả hai cực đoan là Trung đạo (Madhyamāpratipad). Chỉ có phủ định và phủ định mới có thể đưa đến đích Tuyệt đối, Chân lý hay Niết bàn (Nirvāṇa). Và, đó chính là thuyết Bát bất do ngài đề ra trong bài kệ mở đầu của Trung-luận (Mūlamadhyamakakārikā) như sau:

“Tôi đảnh lễ Bậc Toàn giác,
Vị đạo sư tối thượng đã dạy,
Lý duyên sinh,
Niềm vui diệt tận mọi kiến chấp thế gian,

[Ở đó, mỗi sự việc được ‘đánh dấu’ bằng]:

Không sinh, không diệt,
Không đoạn, không thường,
Không nhất, không dị,
Không đến, không đi.”[5]

Cái Tuyệt đối là không-tánh và tất cả mọi thứ là không tánh. Tuy nhiên, thật không đúng khi xem không tánh như là một loại Tuyệt đối hiện diện đằng sau hoặc như là một thứ làm nền tảng cho thế giới hiện tượng, vì “Niết bàn (Nirvāṇa) không khác với sinh-diệt[6].”[7] Nó không một chút gì là một thực tại riêng biệt cả. Đến đây, không tánh có nghĩa là không quan điểm hay không học thuyết; ngay cả Tứ diệu đế (Cattāri-āriyasaccāni) – bài pháp đầu tiên của Đức Phật, cũng không đúng về phương diện tuyệt đối. Chân lý tuyệt đối thì không duyên với bất cứ gì khác; nó là thật một cách rốt ráo.

Trong thời hiện đại, mọi xung đột đều dẫn đến khổ đau. Tệ nhất là dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân hay một thứ tương tự được thực hiện bởi những vọng tưởng bất thiện và nó là một công cụ bạo tàn nhằm gieo rắc khổ đau cho toàn nhân loại, huỷ diệt mọi sự sống trên hành tinh của chúng ta. Là những Phật tử Việt Nam, chúng tôi làm hết sức mình để khởi động bánh xe hoà bình bằng sức mạnh đoàn kết với đồng bào chúng tôi trong bổn phận bảo vệ và tái thiết tổ quốc của chúng tôi. Chúng tôi làm việc để mở rộng mặt trận đoàn kết của chúng tôi với mọi dân tộc trên thế giới, tạo những điều kiện để phát triển sự hợp tác hữu nghị và chung sống hoà bình để tham gia vào một nỗ lực chung hầu tạo thêm những khu vực phi hạt nhân trên toàn thế giới và bảo vệ sự tồn tại của toàn thể nhân loại.

Hơn bao giờ hết, Phật tử Việt Nam khắc sâu lời dạy sau đây của Đức Phật, vị Đại đạo sư:

“Chiến thắng sinh thù oán,
Thất bại chịu khổ đau,
Sống tịch tịnh, an lạc,
Bỏ sau mọi thắng bại.”[8]

Để xây dựng một cảnh giới Niết bàn ngay trên cuộc đời này, nên bắt đầu từ đâu? – Từ chính mỗi người. Nếu không có con người lành mạnh thì làm sao chúng ta có thể mong đợi một mối quan hệ xã hội lành mạnh tốt đẹp về mặt đạo đức. Nếu những tư tưởng tánh không hay bất nhị (advayatā) ngược với những hý luận, vọng tưởng không thấm sâu vào nội tâm của mỗi con người thì làm sao chúng ta mong có được một thế giới an vui và hoà hợp thật sự. 

[1] Majjhima-nikāya, I, 140.
[2] Ibid., 109-110.
[3] Ibid., 111-112.
[4] Saṃyutta-nikāya (Tương ưng bộ kinh), II, tr. 17.
[5] Mūlamadhyamakakārikā by Nāgārjuna, trans. Kenneth K. Inada, Sri Satguru Publications, Delhi, 1993, pp. 38-39.
[6] Sinh diệt hay Ta bà (Saṃsāra) hay hiện tượng giới.
[7] M. K. 25, 19.
[8] Kinh Pháp cú (Dhammapada), 201. 

TTTS. Thích Tâm Đức Giảng viên, Học viện PGVN
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:
     
Thông tin tòa soạn
Liên hệ tòa soạn
Giác Ngộ số 1.025
Nguyệt san Giác Ngộ
Địa điểm phát hành GN, cụm Văn hóa
Lịch GN - Văn hóa
Đăng ký mua báo Giác Ngộ 2020 - Văn hóa
Sách Giác Ngộ, cụm Văn hóa
Liên hệ quảng cáo - Nhóm 1
Visitor
Visitor