29/08/2008 14:40 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Đến Chiết Giang thăm “Biển Trời Nước Phật”

Phổ Đà Sơn - đạo tràng  hoằng pháp của Bồ tát  Quán Âm - một trong Tứ  đại danh sơn Phật giáo Trung Quốc, hẳn nhiên đã trở thành điểm du lịch tâm linh. Bên bờ biển Đông - từng đợt sóng Chiết Giang, mỗi ngày, đã đón rước hàng vạn du khách thập phương đến Phổ Đà Sơn.
Phật tử Tâm Giác - Tâm Ngộ chia sẻ trong chuyến hành hương: “Hành hương Phổ Đà, chúng tôi tâm nguyện: hành hương chiêm bái núi Phổ Đà là một trong những tâm nguyện mà chúng tôi mong ước, như vậy là Tứ đại danh sơn Phật giáo xem như chúng tôi đều đã đi qua.

 Chúng tôi hy vọng mình sẽ có chuyến hành hương đầy ý nghĩa”. Thật ra, không phải ai hành hương đến hải đảo này đều với những mục tiêu như vậy; có người đến vì cầu bình an, cầu phát tài; có người đến vì tính cách thích du ngoạn; có người đến để thưởng thức phong cảnh trời biển giao hòa của cửa sông Tiền Đường, sóng Chiết Giang...

phodason-1.gif

Điện Quán Thế Âm "bất kháng khứ"

Trong khí hậu oi bức của mùa hè, chiếc xe có vẻ kham nhẫn lặng lẽ đưa chúng tôi từ thành phố Ninh Ba đến phà Bạch Phong. Qua chiếc phà này, khách hành hương sẽ đến Thẩm Gia Môn của thành phố đảo Chu Sơn. Phổ Đà Sơn là một đảo nhỏ trong 1390 hòn đảo trong quần đảo Chu Sơn, được mệnh danh là “Hải Thiên Phật Quốc” (Biển trời nước Phật), tọa lạc tại cửa khẩu của sông Tiền Đường, nơi cao nhất là Phật Đỉnh Sơn cách mực nước biển 282m; các điểm du lịch chủ yếu là các ngôi cổ tự và am động, tháp Phật tượng Phật: chùa Phổ Tế, chùa Pháp Vũ, chùa Huệ Tế, Nam Hải Quan Âm, Đại Thừa Thiền Tự, Bàn Đà Thạch - nơi Bồ tát Quan Âm thuyết pháp, Nhị Quy Thính Pháp Thạch (hai con Rùa đá nghe pháp); Triều Âm Động; Phạm Âm Động.
Đặt chân đến hải đảo Phổ Đà Sơn, gió từ dưới biển thổi vào lồng lộng, như giúp các du khách hành hương cuốn đi bụi trần phiền não. Bên xào xạc cây rừng vách núi, bên âm ba sóng biển vỗ bờ, hòa cùng âm thanh niệm chú phát ra từ các loa được đặt hai bên đường khiến mọi người như quên đi cảm giác mệt mỏi đường xa. Kinh Hoa Nghiêm thuyết: “... Quán Tự Tại Bồ tát chí Phổ Đà Lạc Già Sơn...”, có thể đã khiến nơi này thành thánh địa của Bồ tát Quan Âm.
Điểm đến đầu tiên của đoàn chúng tôi là nơi Bồ tát Quan Âm thuyết pháp - Bàn Đà Thạch. Dân gian còn lưu truyền lại câu chuyện về hòn đá này. Tương truyền, Quán Âm Bồ tát và Đông Hải Long vương tranh đoạt đạo tràng, Quán Âm đề xuất nếu ai dời được hòn đá thì người đó sẽ thắng cuộc. Đông Hải Long vương có bản lãnh làm nghiêng sông đảo biển nhưng lại không thể dời hòn đá được phân nào. Trong khi đó, Bồ tát Quan Âm chỉ dùng bàn tay nhẹ nhàng dời hòn đá đến bên bờ, khiến cho cảnh quan đẹp đẽ như hiện nay.

phodason-5.gif

Đức Quán Thế Âm

Câu chuyện về hai chú Rùa đá nghe thuyết pháp còn được truyền miệng đến nay: Lúc đầu, Phổ Đà Sơn chưa có tự viện, ngài Quan Âm chỉ có cách mỗi đêm ngồi trên pháp đài niệm kinh, thuyết pháp. Trong một đêm trăng sao lung linh, chim bay trên trời, thú chạy dưới đất và các thủy tộc dưới biển đều đến mê mải nghe Ngài thuyết pháp. Đông Hải Long vương không hiểu rõ đã xảy ra chuyện gì, phái Thần Quy đến thăm dò. Thần Quy đến cũng mê mải nghe thuyết pháp nên quên lúc quay về, liền hóa thân thành đá thạch. Sau này, các chuyên gia khảo cổ nghi vấn đây chính là hóa thạch từ dưới lòng biển sâu.
Dưới chân núi là ngôi cổ tự Phổ Tế, còn gọi là Tiền Tự (chùa trước). Đây chính là ngôi chùa lớn nhất trên đảo này. Chùa có ba cổng, một cổng chính và hai cổng phụ. Đặc biệt là cổng chính lúc nào cũng đóng kín. Hướng dẫn viên giải thích: “Điều này có liên quan đến Hoàng đế Càn Long. Tương truyền, vua Càn Long rất thích vi hành. Ngày nọ, khi vua đến Giang Nam, du hành Phổ Đà Sơn, vua bị phong cảnh làm mê hoặc đến nỗi quên thời gian, tới chiều tối, Càn Long xuống núi, đến cổng chính chùa Phổ Tế gõ cửa ngủ nhờ qua đêm, tiểu hòa thượng nghe có thí chủ gõ cửa liền ra mở. Càn Long không tiện để lộ thân phận nên chỉ xin vào chùa nghỉ chân, tiểu hòa thượng nói: ‘Cổng chính đã đóng, xin thí chủ đi qua cửa phụ vào chùa’. Càn Long thấy mình đường đường là Hoàng đế đương triều nên bảo: ‘Ông chỉ là chú tiểu, không có quyền quyết định, xin vào chùa bạch với phương trượng là có thí chủ đến, nên mở cổng chính chùa’. Chú tiểu vào bạch với Hòa thượng trụ trì, Hòa thượng dạy: ‘Nước có luật của nước, chùa có pháp của chùa, bảo với thí chủ đi cổng phụ, chỉ trừ Hoàng đế Càn Long đến, cửa chính mới được mở ra tiếp đón’. Chú tiểu vì còn nhỏ, gấp gáp chạy ra cửa, vấp vào ngạch cửa nên nhất thời sân si, đến cửa ngoài gặp Càn Long liền nói: ‘Phương trượng căn dặn dù cho Hoàng đế Càn Long đến, cổng chính chùa vẫn không mở, hà huống chi ông’. Vua Càn Long không cách nào khác đành phải vào cửa phụ. Về đến hoàng triều, Càn Long càng nghĩ càng sân si, hạ chiếu cổng chính chùa Phổ Tế vĩnh viễn không được mở, Trụ trì nghe chiếu xong, hết sức khẩn cầu. Vua Càn Long băn khoăn đến thể diện của mình, cuối cùng hạ lệnh cổng chính chỉ được mở vào ngày Bồ tát Quán Âm đản sinh”. Tục truyền, Bồ tát Quan Âm 60 năm đản sinh một lần nên mỗi 60 năm mới được mở. Năm 1989, cửa chùa đã mở, như vậy lần mở cửa kế tiếp là năm 2049. Đến nay, quốc gia ra quy định chỉ được mở vào các ngày vía Bồ tát, hoặc có các vị quan chức lãnh đạo quốc gia, Đức Đạt Lai Lạt Ma quang lâm. Du khách hành hương cũng không chấp nhứt gì đến việc cổng chính của chùa có mở hay không, chen chúc ra vào hai cánh cổng bên hông chùa, không ngớt thắp hương bay mù mịt cả vùng trời.

phodason-3.gif

Bàn Đà thạch tại Phổ đà Sơn

Chùa Phổ Tế còn có cây cổ thụ có tuổi thọ ngàn năm, nhìn thấy những cây cổ thụ cao chọc trời, đủ biết bề dày lịch sử của ngôi chùa trên đảo. Phía trước chùa là Phạm Cung Trì, còn gọi Liên Hoa Trì, hay là ao phóng sinh. Nối liền hai bờ ao là chiếc cầu đá Vĩnh Thọ. Nghe các du khách kháo nhau, chùa Phổ Tế rất linh thiêng, "hữu cầu tắt ứng", có lẽ vì thế mà các thí chủ khấn vái hết sức thành khẩn.
Rời chùa Phổ Tế, đoàn chúng tôi tiếp tục chiêm bái tượng Nam Hải Quan Âm bằng đồng, cao 33m. Theo lời giới thiệu của hướng dẫn viên, ngày 29-9 ÂL, năm 1997, Lễ kiến thành tượng vàng đồng Nam Hải Quan Âm. Lúc sắp làm lễ, trên không trung mây đen dày đặc. Khi Đại lão Hòa thượng Diệu Thiện tuyên bố khai quang tượng Phật, mây tan, vầng dương tỏa chiếu. Các Phật tử chứng kiến việc này đều phát tâm quy ngưỡng, tín phục. Hôm nay, chúng tôi đối diện với pho tượng kỳ vĩ này, lòng không ngớt tán thán cái hùng vĩ, mầu nhiệm của Phật giáo. Nhiều người thành kính nhiễu Phật, niệm thần chú “Án Ma Ni Bát Mi Hồng”.

phodason-4.gif

Tượng Đức Quán thế Âm Niết Bàn

 Phía bên trái của tượng Nam Hải Quan Âm là ngôi tự viện đầu tiên trên đảo núi “Viện Quan Âm Bất Khẳng Khứ”, sở dĩ có danh hiệu như vậy là vào năm 824, có vị Thiền sư Huệ Ngạc từ Nhật Bản đến Ngũ Đài Sơn - Sơn Tây học đạo. Lúc sắp về nước, thiền sư liền đến trước mỗi tượng Phật bái biệt. Khi đến lễ tôn tượng Quan Âm, thiền sư quỳ thật lâu không khởi thân. Hòa thượng trụ trì hiểu tâm nguyện của ông, chủ động hiến tặng tượng Quan Âm. Thiền sư hết sức hoan hỷ rước Phật đông độ Nhật Bản, thuyền ngang qua Phổ Đà Sơn, mưa to gió lớn nổi lên, lại có nhiều Thiết Liên Hoa bao vây. Thiền sư ngộ ra, liền thỉnh tượng Quan Âm thờ ngay trước đầu thuyền, quỳ khấn: “Nếu như Quan Âm Đại sĩ không muốn đông độ Phù Tang (Nhật Bản), con tùy tâm nguyện của Ngài, chọn đất nơi đây thờ phượng”. Lời khấn vừa dứt, thuyền rẽ sóng trôi vào bờ, Thiền sư Huệ Ngạc liền chọn nơi này xây thành “Viện Quan Âm Bất Khẳng Khứ” (Viện Quan Âm không chịu đi). Vì vậy, Thiền sư Huệ Ngạc thành vị Tổ sư khai sơn Phổ Đà. Nhiều vị Phật tử hành hương nói vui: “Bồ tát Quan Âm thật là biết cách chọn đạo tràng phong quang tuyệt mỹ như vậy. Ngài không chịu đi để hôm nay, đệ tử chúng con đến cũng không muốn rời”.

phodason-6.gif

Góc chùa Phổ Tế tại Phổ đà Sơn

Từ viện Quan Âm này, có thể ngồi tọa thiền bên bờ biển, nghe sóng thủy triều. Nhiều du khách hành hương ngồi trong chiếc Đình bên bờ biển hóng gió quên cả trời đã tối, cổng chính của viện đã đóng cửa, mọi người giục chúng tôi ra về. Cửa chùa tuy đã đóng kín, nhưng cửa tâm vẫn còn mở, để âm ba từ bi của sóng tràn vào, để núi trí huệ sừng sững chắn mọi phiền não, để gió hoan hỷ thấm nhuần tâm can...
Ngày hôm sau, đoàn tháp tùng với du khách đi phà qua núi Lạc Già, trên biển cả mênh mông, chung quanh toàn là đảo, trên đảo là núi và những ngôi cổ tự. Bên núi Lạc Già có tượng Quan Âm Niết Bàn, tháp Ngũ Bách La Hán. Thấp thoáng còn có bóng dáng của các Tăng sĩ khoác y vàng. Trên ngọn núi nhỏ này, Tam bảo đã được hình thành từ xa xưa, lúc mà khoa học kỹ thuật còn chưa hiện đại. Phải chăng, tín ngưỡng trong thời đại văn minh đã mất đi tính linh thiêng, mầu nhiệm của nó? Không, thấy các du khách hành hương nườm nượp đổ về Phổ Đà Sơn, đã giúp ta tìm ra câu trả lời. Thời đại văn minh đã không thể làm thỏa mãn đời sống tâm linh của nhân loại, họ đến nơi này không phải để đi tìm vật hữu hình, mà tìm lại cái vô giá vô hình, cái niềm vui, niềm tin yêu từ trong tâm linh, tìm lại sự đồng điệu, sự bao dung giữa nhân loại và cây cỏ trời đất. Khoa học có thể mang đến cho con người cái cảm giác thành tựu nhưng không thể đem đến cho con người cảm giác an toàn, hạnh phúc.

phodason-7.gif

Hải Thiên Phật quốc (Biển trời nước Phật)

Đây đó người nhiễu Phật, người tam bộ nhất bái, ngũ bộ nhất khấu; cũng có người vội vã leo nhanh lên chùa núi. Trưa hôm đó, đoàn đi cáp treo đến tham quan Phật Đỉnh Sơn - chùa Huệ Tế. Chùa này là nơi duy nhất thờ tôn tượng của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Bên ngoài chùa là các cửa hàng phát hành văn hóa phẩm Phật giáo, bao gồm tượng Phật, chuỗi niệm Phật... hàng hóa hết sức phong phú. Phổ Đà Sơn là nơi sản xuất ra chuỗi làm bằng đá, ngọc, mộc, nhưng Chiết Giang lại là nơi làm hàng giả nổi tiếng của Trung Quốc. Du khách phải thật tỉnh táo để khỏi bị lường gạt.
Buổi chiều cùng ngày, đoàn đến tham quan chùa Pháp Vũ, còn gọi là Hậu Tự (chùa sau). Chùa này được vua Khang Hy đề chữ “Thiên Hoa Pháp Vũ”. Đây là ngôi cổ tự đẹp nhất, yên tĩnh và trầm mặc nhất ở Phổ Đà Sơn. Chùa được phủ rạp bởi cổ thụ ngàn năm. Cây cổ thụ được gọi là cây Chương (cây Long Não), loài cây này không chỉ có ở khu nội tự, cây còn điểm xuyết toàn cảnh núi, khiến cho nước Phật thêm rậm rạp xanh um.
Trải qua hai ngày chiêm bái chùa tượng tháp Phật, du khách hành hương khi thì leo núi lễ Phật, lúc lại xuống biển ngắm cảnh Phật, mệt thì ngồi xuống thềm chùa nghỉ ngơi, hoặc ngồi bên bờ biển hứng gió. Dù ở nơi nào, thời điểm nào trên đảo Phổ Đà Sơn, Phật tử cũng có thể cảm nhận được sức từ bi của Bồ tát mênh mông như nước biển, mát mẻ như gió biển, như bóng cổ thụ ngàn năm. Phật tử Tâm Huệ cảm khái: “Cuộc sống mưu sinh cứ cuốn con người vào vòng phiền não, được chiêm ngưỡng cái hùng vĩ của núi Phật, cái mênh mông của biển Phật khiến hàng Phật tử chúng tôi như được tiếp thêm sức mạnh, bồi dưỡng tín tâm để tiếp tục tu tập”.
Đoàn chúng tôi xem như đã nói lời tạm biệt với Phổ Đà Sơn. Khi sắp ra về, tôi đã viết trên cát những gì chưa hài lòng trong chuyến đi. Song, cái hùng vĩ khí thế, cái bao la hữu tình, cái kỳ tích linh thiêng... của biển trời nước Phật sẽ mãi mãi khắc ghi trong tâm của mọi người trong đoàn hành hương.

Bài, ảnh THÁNH TÂM

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:
     
Thông tin tòa soạn
Liên hệ tòa soạn
Giác Ngộ số 1.061
Nguyệt san Giác Ngộ
Sách Giác Ngộ, cụm Văn hóa
Đăng ký mua báo Giác Ngộ 2020 - Văn hóa
Địa điểm phát hành GN, cụm Văn hóa
Liên hệ quảng cáo - Nhóm 1
Visitor
Visitor