02/12/2008 06:48 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Mấy bài thơ của Trần Nhân Tông (Lời bình của Nguyễn Huệ Chi)

1. 餽 張 顯 卿 春 餅

柘枝 舞 罷 試 春 衫

況 值 今 朝 三 月 三

紅 玉 堆 盤 春 菜 餅

從 來 風 俗 舊 安 南

Phiên âm:
QUỸ TRƯƠNG HIỂN KHANH XUÂN BÍNH
Giá chi vũ bãi, thí xuân sam,
Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
Tòng lai phong tục cựu an Nam.
 
Dịch nghĩa:
TẶNG BÁNH NGÀY XUÂN CHO SỨ BẮC TRƯƠNG HIỂN KHANH
Múa giá chi xong, thử tấm áo ngày xuân,
Huống nữa hôm nay lại gặp tiết mồng ba tháng Ba.
bánh rau mùa xuân như ngọc hồng bày đầy mâm,
Đó là phong tục của nước An Nam xưa nay.
 
Dịch thơ:
Múa giá chi rồi thử áo xuân,
Hôm nay hàn thực, buổi thanh thần.
Bánh rau đầy đặn như hồng ngọc,
Nước Việt, tục này theo cổ nhân.

                                                      Trần Lê Văn dịch
Một bài thơ tiếp sứ trình bày vẻ đẹp của phong tục đất nước để khách thưởng lãm, có bánh, có rau, có điệu múa cổ “giá chi” và trang phục mùa xuân của nghệ sĩ đang múa. Người làm thơ khiêm nhường với những lời nhã nhặn, nhưng đã phác họa lên cả một bề dày văn hóa mà thấp thoáng đằng sau là ánh mắt tự hào về bản sắc riêng của dân tộc mình.

2. 春 景

楊 柳 花 深 鳥 語 遲

畫 堂 簷 影 暮 雲 飛

客 來 不 問 人 間 事

共 倚 欄 杆 看 翠 微

Phiên âm:

XUÂN CẢNH

Dương liễu hoa thâm, điểu ngữ trì,
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.
 

Dịch nghĩa:

CẢNH XUÂN

Trong khóm hoa dương liễu rậm, chim hót chậm rãi,
Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay.
Khách đến chơi không hỏi việc thế tục,
Cùng đứng tựa lan can ngắm màu xanh mờ mịt ở chân trời.
 

Dịch thơ:

Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày,
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay.
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng tựa lan can nhìn núi mây.

Huệ Chi dịch

3. 二 月 十 一 夜

歡 伯 澆 愁 風 味 長

桃 笙 竹 簟 穩 龍 床

一 天 如 水 月 如 晝

花 影 滿 窗 春 夢 長

Phiên âm:

NHỊ NGUYỆT THẬP NHẤT DẠ

Hoan bá kiêu sầu phong vị trường,
Đào sinh, trúc đạm, ổn long sàng.
Nhất thiên như thủy, nguyệt như trú,
Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trường.
 

Dịch nghĩa:

ĐÊM MƯỜI MỘT THÁNG HAI

Chén rượu rửa mối sầu có phong vị nồng đậm mãi,
Chiếc chiếu “đào sinh” (ở Tứ Xuyên) bằng trúc yên ổn trên giường rồng.
Trời trong như nước, trăng sáng như ban ngày,
Bóng hoa tràn ngập cửa sổ, giấc mộng đêm xuân triền miên.
 

Dịch thơ:

Rượu tưới sầu tan, vị đậm đà,
giường rồng, chiếu trúc trải bày ra.
Trời trong như nước, trăng vằng vặc,
Giấc mộng xuân dài dưới bóng hoa.

Trần Lê Văn dịch

4. 天 長 晚 望

村 後 村 前 淡 似 煙

半 無 半 有 夕 楊 邊

牧 童 笛 裡 歸 牛 盡

白 鷺 雙 雙 飛 下 田

Phiên âm:

THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu, tịch dương biên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.

Dịch nghĩa:

NGẮM CẢNH CHIỀU Ở THIÊN TRƯỜNG

Trước thôn, sau thôn đều mờ mờ như khói phủ,
Bên bóng chiều, cảnh vật nửa như có nửa như không.
Trong tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết.
Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.

Dịch thơ:

Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
bóng chiều dường có lại dường không.
Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,
cò trắng từng đôi hạ xuống đồng.
                                               
Theo bản dịch Ngô Tất Tố

Bài thơ tả cảnh một buổi chiều ở phủ Thiên Trường (Nam Định) nhưng cũng là giải đáp một câu hỏi về hai phạm trù Thiền học “có” và “không” cho chính nhà thơ. Hai câu đầu, buổi chiều hiện ra trong trạng thái “tĩnh” và mờ mờ ảo ảo khiến người ngắm cảnh giằng mắc trong cái cảm giác “có” và “không” lẫn lộn của hiện hữu. Nhưng chợt từ xa hình ảnh một chú bé chăn trâu đi gần lại với tiếng sáo véo von, đánh thức ấn tượng rõ rệt về cái “có” - sự hiện hữu muôn đời của làng quê Việt Nam - trong tâm trí tác giả. Thêm vào đấy lại một đàn cò trắng lấp loáng bay xuống giữa đồng. Cái “có” lần lượt đánh bạt cái “không” thì cũng chính là trước mắt người ngắm cảnh, cái “động” đang thay thế cho cái “tĩnh”.

 

5. 武 林 秋 晚

畫 橋 倒 影 蘸 溪 橫

一 抹 斜 陽 水 外 明

寂 寂 千 山 紅 葉 落

濕 雲 如 夢 遠 鐘 聲

 

Phiên âm:

VŨ LÂM THU VÃN

Họa kiều đảo ảnh, bán khê hoành,
Nhất mạt tà dương thủy ngoại sinh.
Tịch tịch thiên sơn hồng lạc diệp,
Thấp vân như mộng, viễn chung thanh.
 

Dịch nghĩa:

CHIỀU THU Ở VŨ LÂM

Chiếc cầu chạm vẽ in ngược bóng vắt ngang dòng suối,
Một vệt nắng chiều rực sáng bên ngoài ngấn nước.
Nghìn núi lặng tờ, lá đỏ rơi,
Mây ướt giăng như mộng, tiếng chuông xa vẳng.
 

Dịch thơ:

Lòng khe in ngược bóng cầu hoa,
Hắt sáng bờ khe, vệt nắng tà.
Lặng lẽ nghìn non rơi lá đỏ,
Mây giăng như mộng, tiếng chuông xa.

Trần Thị Băng Thanh dịch

Khung cảnh một chiều thu được nhà thơ vẽ lên bằng hình ảnh phản chiếu qua một con suối, ở đó cái gì cũng đảo ngược: bóng cầu, vệt nắng... rất đẹp nhưng hình như không thật. Điểm thêm vào đó là cái nền mây trùm lên cảnh vật mờ ảo như trong giấc mộng trong đó có những lá đỏ đang rơi nhè nhẹ và tiếng chuông vẳng tới từ rất xa. Tất cả, như muốn nói lên cái cảm quan Thiền về “thật” và “ảo” trong tâm hồn tác giả.

 Về trang trước      Về đầu trang      Bản để in     Gửi cho bạn bè     Gửi ý kiến
Chia sẻ với bạn bè qua:
     
Visitor
Visitor