Thần chú trừ rắn độc

GN - Thuở xưa, trú xứ của những người xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình thường là khu rừng, vách núi, hang động, đồng hoang… Ngay cả Đức Thế Tôn, khi đã có những tu viện do các cư sĩ xây dựng cúng dường như Trúc Lâm, Kỳ Viên… thì Ngài cũng chỉ cư trú trong ba tháng an cư mùa mưa, còn phần lớn thời gian Ngài đi hoằng pháp và nghỉ lại trong những khu rừng trên lộ trình du hóa.

PHAT HOC.jpg

Rừng hoang, hang động, vách núi… thường ẩn chứa những điều hiểm nguy. Muôn loài thú dữ và côn trùng độc hại đều lấy núi rừng làm nhà; ma quái, ly mỵ, vọng lượng… chắc cũng ẩn dật đâu đó. Những mối hiểm nguy luôn tiềm tàng giữa rừng núi hoang vu, vậy mà các Tỳ-kheo lại ưa thích đời sống viễn ly, độc cư, nhàn tĩnh giữa núi rừng. Vậy nên, có lần tai nạn đã xảy ra với các Tỳ-kheo.

Chuyện kể rằng, Tôn giả Upasena khi đang ngồi thiền trong hang Ðầu Con Rắn tại rừng Sitavana, thuộc thành Ràjagaha thì bị một con rắn cực độc rơi trúng trên người. Độc tố của loài rắn này không những giết chết Tôn giả Upasena mà còn hủy hoại, phân tán thân thể của Tôn giả thành một nắm trấu (Tương ưng bộ kinh).

Cùng sự kiện này, kinh Tạp A-hàm còn kể thêm rằng, khi ấy Tôn giả Sàriputta chứng kiến thi thể Tôn giả Upasena bị phân hủy, cho dù Upasena đã đạt được định lực thâm sâu, có được tâm và tuệ vô ngã nên không hề có biểu hiện đau khổ, nhưng Tôn giả Sàriputta rất thương xót, nên sau khi cúng dường xá-lợi Tôn giả Upasena xong, ngài liền đến chỗ Thế Tôn và kể lại sự tình. Đức Phật nghe xong thì dạy rằng, nếu Upasena tụng bài kệ và thần chú sau đây thì sẽ không trúng độc và thân thể cũng không bị hủy hoại như trấu nát được. Rồi thì Đức Phật dạy câu thần chú: Ô-đam-bà-lệ, đam-bà-lệ, đam-lục, ba-la-đam-lục, nại-tí, túc-nại-tí, chỉ-bạt-tí, văn-na-di, tam-ma-di, đàn-đế, ni-la-chỉ-thí, bà-la-câu-bế-ô-lệ, ô-ngu-lệ, tất-bà-ha.

Nguyên bản tiếng Phạn của câu thần chú trên chưa được tìm thấy, nhưng nội dung bài kệ tụng thì hoàn toàn phù hợp với câu thần chú trong Luật tạng Pāli, Tiểu phẩm (Cullavagga) cho trường hợp xảy ra tương tự, nhưng không phải Tôn giả Upasena mà là một Tỳ-kheo bị rắn cắn chết ở thành Savatthi. Bài thần chú ấy tạm dịch như sau: “Tôi xin hướng từ tâm/Đến loài Virūpakkhas/Đến loài Erapathas/Con cháu loài Chabyā/ Và loài Gotamakas đen/Tôi cũng hướng từ tâm/Đến chúng sanh không chân/Hai chân và bốn chân/Cùng chúng sanh nhiều chân./Nguyện các loài không chân/Hai chân và bốn chân/Và những loài nhiều chân/Không làm tổn hại tôi!/Nguyện hết thảy sanh vật/Các loài có hơi thở/Tất cả mọi chúng sanh/Mỗi một trong loài ấy/Đều gặp điều tốt lành/Không loài nào gặp nạn./Phật bảo là vô lượng/Pháp bảo là vô lượng/Tăng bảo cũng vô lượng/Còn chúng sanh bò, chạy/Như rắn, bò cạp, rết/Nhền nhện, thằn lằn, chuột/Chỉ có hạn lượng thôi/Nên tôi tụng bài kệ/Và thần chú hộ vệ/Xin các loài đi xa/Con kính lễ Thế Tôn/Cùng bảy Phật quá khứ”.

Nội dung của câu thần chú trong Luật tạng Pāli như vậy không khác gì mấy so với nội dung bài kệ tụng được ghi chép trong kinh Tạp A-hàm, kinh số 254 (số 252, bản Đại chính). Bài kệ tụng được xem như là thần chú ấy cũng được tìm thấy trong Tiểu bộ kinh, số 203, chuyện tiền thân Khandha-Vatta, với duyên do là có Tỳ-kheo bị rắn cắn chết khi đang chẻ củi.

Trong tất cả các bản kinh và luật trên đều có lời Phật khẳng định: “Nếu các ông tu tập từ tâm đối với bốn loại gia đình vua rắn này, các con rắn sẽ không cắn các ông, do vậy, bắt đầu từ nay, hãy tu tập từ tâm như vậy đối với bốn loại vua rắn”.

Như vậy, bản chất của bài kệ tụng mà hết thảy các Phật tử đều xem như thần chú bảo hộ (paritta) này là phương pháp tu tập phát triển tâm từ bi. Điều này cho thấy, để bảo hộ bản thân mình trước những hiểm nguy, người con Phật chỉ dùng một thứ ‘công cụ’ duy nhất là tâm từ bi. Khi tâm từ biến mãn mười phương thì không gì có thể làm tổn hại mình được. Cho nên, nếu tụng thần chú, dù là thần chú Đại bi, mà tâm của mình không có một chút tình thương đối với đồng loại, không từ niệm đối với chúng sanh thì thần chú không thể phát huy sức mạnh nhiệm mầu, không thể làm cho mình tai qua nạn khỏi, không thể bảo hộ mình trước những hiểm nguy, ách nạn…

PHAT HOC 1.jpg

Một điều đáng chú ý nữa là, khi tu tập phát triển tâm từ bi, hướng tâm đến các loài chúng sanh để ban rải tình thương hay cầu nguyện, thì tình thương ấy, lời cầu nguyện ấy phải là tình thương chân thật, lời cầu nguyện trên nền tảng của sự thật, phát sanh từ chân tâm. Kinh ghi: “Như lời chân thật này/Đại sư Vô thượng dạy”.

Như vậy, bản chất của thần chú là chân ngôn, là lời nói chân thật, không hư dối, là phương tiện để diễn đạt chân lý. Đọc tụng thần chú hàng ngày là cách sống nương tựa vào chân lý, sống với sự thật. Chẳng hạn khi mình đọc tụng chú Đại bi mở đầu bằng câu “Đại bi tâm đà-la-ni”, thì có nghĩa là con xin “duy trì, giữ gìn cái tâm tràn đầy yêu thương”. Chính cách sống, cách tu tập này mà chúng ta bảo hộ được bản thân, gia đình và xã hội thoát khỏi mọi khổ đau ách nạn; không những thoát khỏi sự tấn công của rắn độc, mà còn miễn nhiễm với mọi ô nhiễm của cuộc đời.

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Có 112 Tăng Ni sinh khóa IX (2022-2026) tốt nghiệp hệ trung cấp Phật học

Hải Phòng: Trường Trung Cao đẳng Phật học thành phố trao bằng tốt nghiệp khóa IX và khai giảng khóa X

GNO - Sáng 17-10, tại Trường Trung Cao đẳng Phật học TP.Hải Phòng (phường An Dương) đã diễn ra Lễ trao bằng tốt nghiệp khóa IX (2022-2026); khai giảng khóa X (2026-2030); đồng thời phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) khai giảng lớp cử nhân chuyên ngành Tôn giáo học.
Chùa Như Pháp (Vĩnh Long) tưởng niệm 14 năm ngày Hòa thượng Thích Lưu Đoan viên tịch

Vĩnh Long: Lễ tưởng niệm Hòa thượng Thích Lưu Đoan - khai sơn chùa Như Pháp

GNO - Sáng 18-10 (9-9-Bính Ngọ), chùa Như Pháp (xã Tiểu Cần) trang nghiêm tổ chức Lễ tưởng niệm húy nhật lần thứ 14 Hòa thượng Thích Lưu Đoan, Ủy viên Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni, Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học tỉnh Trà Vinh, trụ trì tổ đình Trúc Lâm (Huế), khai sơn chùa Như Pháp.
Đoàn Chủ tọa Hội thảo

Quảng Trị: Hội thảo khoa học về Phó bảng Trần Viết Thọ đối với xã hội và Phật giáo cuối thế kỷ XIX

GNO - Ngày 16-10, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Quảng Trị; UBND xã Triệu Cơ phối hợp Hội Khoa học Lịch sử TP.Huế, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán tổ chức Hội thảo khoa học: “Phó bảng Trần Viết Thọ - Thân thế, sự nghiệp và những đóng góp về lịch sử, văn hóa, xã hội, Đạo pháp giai đoạn cuối thế kỷ XIX”.

Thông tin hàng ngày