Trong quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Đại thừa tại Trung Hoa, các kinh thuộc bộ loại Niết-bàn được du nhập và phiên dịch khá sớm. Trong số đó đã có một số bản bị thất truyền nhưng qua các nguồn tư liệu khả tín cho thấy các kinh điển Đại thừa thuộc bộ Niết-bàn đã được phiên dịch vào khoảng giữa thế kỷ thứ II. Điều này được thể hiện rõ ràng hơn khi tiếp cận vấn đề truyền bản của bộ kinh này.
1. Về các bản kinh Niết-bàn ở giai đoạn đầu
Tiểu Bát-nê-hoàn kinh (小般泥洹經) do ngài An Thế Cao (安世高) dịch trong khoảng năm 148-170. Theo ghi nhận của ngài Trí Thăng (智昇, 669-740) trong Khai Nguyên Thích giáo lục (開元釋教錄)(2) thì bản kinh này đã thất lạc.
Phạn Bát-nê-hoàn kinh (梵般泥洹經) do ngài Chi-lâu-ca-sấm (支婁迦讖) dịch trong khoảng năm 147-186(3). Bản kinh này hiện thất lạc.
Đại Bát-nê-hoàn kinh (大般泥洹經) do cư sĩ Chi-khiêm (支謙) dịch trong khoảng năm 222-237(4). Bản kinh này hiện thất lạc.
Đại Bát-niết-bàn kinh (大般涅槃經) do ngài An Pháp Hiền (安法賢) dịch vào thời Tào Nguỵ (曹魏)(5), tức khoảng 220-265. Bản này hiện thất lạc.
Phật thuyết Phương đẳng Bát-nê-hoàn kinh (佛說方等般泥洹經) do ngài Trúc Pháp Hộ (竺法護) dịch vào năm Thái Thủy (泰始) thứ năm (269)(6). Bản này hiện còn trong tạng Đại Chánh(7).
Tập nhất thiết phước đức tam-muội kinh (集一切福德三昧經) do ngài Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什) dịch trong khoảng năm 401-413(8). Bản này hiện còn trong tạng Đại Chánh(9).
Phật thuyết Đại Bát-nê-hoàn kinh (佛說大般泥洹經) do ngài Pháp Hiển (法顯) dịch vào năm Nghĩa Hy (義熙) thứ bảy (411)(10). Bản này hiện còn trong tạng Đại Chánh(11).
2. Về hai bản kinh Đại Bát-niết-bàn: Bắc bản, Nam bản và phần sau của bộ kinh này
Đại Bát-niết-bàn kinh (大般涅槃經) do ngài Đàm-vô-sấm (曇無讖, Dharmakṣema, 385-433) dịch vào năm Huyền Thủy (玄始) thứ mười (421)(12). Đây được xem là bản kinh quan trọng và là nền tảng cho bộ Niết-bàn, do vì được phiên dịch trong thời Bắc Lương (北涼, 397-439) nên còn được gọi là Bắc bản (北本). Bản này hiện còn trong tạng Đại Chánh, ở tập 12 mang số hiệu 0374(13). Sau đây gọi tắt là bản 0374.
Tuy dịch ngữ và văn tự của bộ 0374 do ngài Đàm-vô-sấm dịch rất hay, nhưng các phẩm mục vẫn chưa hoàn bị, nên cả ba ngài gồm Tuệ Nghiêm (慧嚴), Tuệ Quán (慧觀) cùng với Tạ Linh Vận (謝靈運) dựa trên cấu trúc phẩm số của bộ Đại Bát-nê-hoàn kinh (大般泥洹經) của ngài Pháp Hiển mà chia thành 25 phẩm và tập thành 36 quyển(14). Do vì bản kinh này được chỉnh lý và lưu hành ở Lưu Tống (劉宋), cũng gọi là Nam Tống (南宋, 420-479) nên được gọi là Nam bản (南本). Bản kinh này hiện được lưu giữ trong tạng Đại Chánh, ở tập 12 với số hiệu là 0375. Sau đây gọi là tắt là bản 0375.
Khảo sát về nội dung, cả hai bản 0374 và 0375 phần lớn đều giống nhau về tư tưởng, quan điểm chủ đạo, ngay cả những tiểu tiết quan trọng cũng đều giống nhau. Nếu có khác chăng đó chính là việc phân định lại chương mục, sắp xếp lại số quyển và bổ sung một số văn từ, đáp ứng ngữ nghĩa văn chương mà không ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung. Do vậy, có thể nói rằng, bản 0374 do ngài Đàm-vô-sấm dịch được xem như định bản của bộ kinh Đại Bát-niết-bàn.
Về cơ sở nguồn gốc của bộ kinh này, theo Cao tăng truyện, bản 0374 được Đàm-vô-sấm tiếp nhận từ Thiền sư Bạch Đầu (白頭禪師) được ghi trên vỏ cây (樹皮). Đây là điều hết sức đặc thù, bởi lẽ trong giai đoạn này phần lớn các kinh truyền dịch ở Trung Hoa đều phụ thuộc vào trí nhớ của vị Pháp sư.
Theo Cao tăng truyện, do vì bản kinh Niết-bàn mà ngài Đàm-vô-sấm mang đến Trung Hoa chỉ gồm 10 quyển đầu nên ngài đã nỗ lực sưu cầu nhiều nơi:
Đàm-vô-sấm thấy rằng bản kinh Niết-bàn số phẩm chưa đầy đủ nên trở về Thiên Trúc để tìm kiếm, gặp lúc mẹ mất nên ông ở lại hơn một năm. Sau đó, tại nước Vu-điền (Khotan, 于闐) lại được phần giữa của bản kinh rồi trở về Cô Tàng (姑臧) để dịch phần này. Về sau, lại sai người đến Vu-điền tìm được phần sau, từ đó tiếp tục dịch thành 30(15) quyển. Vào năm Huyền Thủy (玄始) thứ ba (414), thời Ngụy [Lương, Đàm-vô-sấm] bắt đầu phiên dịch bộ kinh này, đến ngày 23 tháng 10, năm Huyền Thủy thứ mười (421) thì mới xong được ba phần, tức vào thời Tống Vũ Đế (宋武帝), năm Vĩnh Sơ (永初) thứ hai (421). Sấm nói: Bản Phạn của kinh này có ba vạn năm nghìn bài kệ, tại đất nước này [Trung Hoa] bị giảm mất một trăm vạn chữ, nay phần dịch ra chỉ hơn một vạn bài kệ(16).
Như vậy, bản 0374 mà ngài Đàm-vô-sấm dịch vẫn chưa đầy đủ. Do đó, ngài đã nhiều lần muốn trở về Tây Vực để tìm lại phần sau của kinh Đại Bát-niết-bàn nhưng Thư Cừ Mông Tốn (沮渠蒙遜)tìm cớ thoái thác.
Cũng theo Cao tăng truyện:
Đến tháng ba, năm Nghĩa Hòa thứ ba (433), thời Mông Tốn, Đàm-vô-sấm khẩn cầu được đi về Tây Vực để tìm phần sau của kinh Niết-bàn. Mông Tốn tức giận về việc ông muốn rời đi, bèn bí mật mưu hại Đàm-vô-sấm. Bề ngoài thì giả vờ cung cấp lương thực, tặng nhiều của báu tiễn đưa. Đến ngày khởi hành, Đàm-vô-sấm rơi lệ mà bảo đại chúng rằng: “Nghiệp báo của ta sắp đến rồi, dù Thánh chúng cũng không thể cứu được, nhưng vì trong tâm ta có lời thệ nguyện xưa, và vì nghĩa đạo nên không thể dừng lại”. Sau khi ông đi, Mông Tốn quả nhiên sai thích khách sát hại ngài ở trên đường. Năm ấy, ngài hưởng dương 49 tuổi, vào năm Nguyên Gia thứ mười (433)(17).
Việc tìm kiếm phần sau của kinh Đại Bát-niết-bàn vẫn được các bậc cao tăng đời sau tiếp tục thực hiện. Cũng theo Cao tăng truyện:
Tại chùa Đạo Tràng (道場寺), Pháp sư Tuệ Quán có chí nguyện muốn tìm lại phần sau của kinh Đại Bát-niết-bàn bèn tâu lên Tống Thái Tổ (宋太祖)(18) xin hỗ trợ việc tìm kiếm. Vua cho Sa-môn Đạo Phổ (道普) đem theo mười viên thư lại đi về phương Tây để tìm kinh. Đến quận Trường Quảng (長廣郡) thuyền bị đắm, chân [Đạo Phổ] bị thương, bệnh rồi mất. Trước khi lâm chung, Đạo Phổ than rằng: “Phần sau của kinh Niết-bàn không có duyên với đất Tống vậy!”(19).
Nếu như vậy thì phải chăng bản kinh Đại Bát-niết-bàn kinh hậu phần (大般涅槃經後分) số 0377 hiện nằm trong tạng Đại Chánh chính là phần sau của kinh Đại Bát-niết-bàn, mà bấy lâu nay Đàm-vô-sấm và các bậc cao tăng ra sức tìm kiếm?
Khảo sát năm phẩm của kinh số 0377 nêu trên cho thấy, phẩm thứ nhất nói về trường hợp Tu-bạt-đà-la xuất gia; phẩm thứ hai dạy về cách ứng xử với người chưa thuần thục như Xa-nặc, lục quần Tỳ-kheo, phải lấy giáo pháp làm thầy…; phẩm thứ ba mô tả việc Đức Phật nhập và xuất các tầng thiền định trước khi nhập Niết-bàn hoàn toàn; phẩm thứ tư mô tả việc trần thiết và trà-tỳ kim thân; phẩm thứ năm nói về việc phân chia xá-lợi của Đức Phật. Tổng quan, bản kinh 0377 không chuyên chở giáo nghĩa Đại thừa mà phần lớn giống như phần cuối kinh Du hành (遊行經) thuộc Trường A-hàm (長阿含經).
Thực tế này cũng được ngài Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) ghi nhận trong tác phẩm Đại Đường Tây Vực cầu pháp Cao tăng truyện (大唐西域求法高僧傳), truyện về Luật sư Hội Ninh (會寧律師):
Vào khoảng niên hiệu Lân Đức (麟德, 664-665), [ngài Hội Ninh] chống tích trượng đi về Nam Hải, dong thuyền đến đảo Ha-lăng và dừng lại nơi ấy ba năm. Tại đây, ngài cùng với Tỳ-kheo đa văn Nhã-na-bạt-đà-la của nước Ha-lăng phiên dịch sự kiện hỏa táng báo thân của Như Lai khi Ngài Niết-bàn ở trong kinh A-hàm. Nội dung kinh này khá khác biệt, không có liên hệ nhiều với kinh Niết-bàn của Đại thừa(20).
![]() |
Phiến đoạn thủ bản Đại Bát Niết-bàn |
3. Về các bản chú, sớ kinh Đại Bát-niết-bàn
Đại Bát-niết-bàn kinh nghĩa ký (大般涅槃經義記)(21), gọi tắt là Nghĩa ký, do ngài Thích Tuệ Viễn (釋慧遠, 523-592), người Đôn Hoàng(22), là bậc cao tăng đời Tùy, trụ tại chùa Tịnh Ảnh (淨影寺) trước thuật, gồm 10 quyển. Đây là bộ chú giải kinh Đại Bát-niết-bàn số 0374, tức Bắc bản (北本) nhằm làm sáng tỏ nghĩa lý sâu xa trong giáo pháp Niết-bàn Đại thừa. Tác phẩm gồm 13 chương, chia thành 5 phần, theo trật tự và tư tưởng của bản kinh chính. Mục đích của Nghĩa ký là khai triển ý nghĩa Niết-bàn, giải thích các khái niệm như Pháp thân, Phật tánh, Tứ đức Niết-bàn (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh), đồng thời biện minh rằng: Niết-bàn của Đại thừa không phải là đoạn diệt, mà là cảnh giới chân thường, viên mãn của Pháp thân Như Lai.
Phần thứ nhất: Phần Tựa (序分) mở đầu bằng việc trình bày nhân duyên thuyết kinh, thời gian, địa điểm và đối tượng nghe pháp. Nghĩa ký giải thích vì sao kinh được gọi là “Đại Bát-niết-bàn”, nêu rõ hai loại tựa: “Phát khởi tựa”, nói về nguyên nhân Phật thuyết kinh; và “Chứng tín tựa” do ngài A-nan truyền tụng, chứng minh tính chân thật của giáo pháp. Tác phẩm cũng luận về danh nghĩa “kinh” như sợi chỉ xâu suốt các pháp, làm quy phạm cho mọi lời dạy của Phật.
Phần thứ hai: Khai tông hiển đức (開宗顯德) nêu ra tông chỉ và đức dụng của toàn kinh. Ở đây, Nghĩa ký giải thích sâu về bốn đức Niết-bàn: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, và khẳng định rằng Pháp thân Như Lai vốn bất sinh bất diệt, không phải hư vô. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tức khả năng chứng nhập Niết-bàn. Phần này đặt nền tảng cho việc nhận thức Niết-bàn như một thực tại thường trụ, chứ không phải sự tận diệt.
Phần thứ ba: Biện tu thành đức (辯修成德) trình bày quá trình tu tập để thành tựu các đức tính Niết-bàn. Tác phẩm phân tích tỉ mỉ giáo lý Tứ đế, bốn điên đảo (thường - vô thường, lạc - khổ, ngã - vô ngã, tịnh - bất tịnh) và chỉ ra nhận thức về vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh chỉ là phương tiện. Đại thừa dạy rằng bản tánh rốt ráo của Niết-bàn chính là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Nghĩa ký giữ nguyên hình thức đối thoại giữa Tôn giả Ca-diếp và Đức Phật để giải thích chỗ nghi nan, nhấn mạnh rằng giải thoát chân thật là vượt ngoài ngôn thuyết, không chấp có hay không, diệt mất hay tồn tại.
Phần thứ tư: Phá tà thông chánh (破邪通正) tập trung bác bỏ các quan niệm sai lầm của ngoại đạo và những cách hiểu sai về Niết-bàn. Tác phẩm phản biện tư tưởng hư vô luận, đoạn diệt luận, và những kiến giải nhị nguyên “hữu - vô”, “thường - đoạn”. Tác giả nêu rõ rằng: Đại thừa chủ trương Niết-bàn là Trung đạo, vượt ngoài mọi đối đãi. Phần này cũng trình bày sự khác biệt giữa một số bộ phái ở Ấn Độ (gọi là Tiểu thừa) và Đại thừa: Tiểu thừa cầu diệt khổ, Đại thừa chứng chân thường; Tiểu thừa chấm dứt sinh tử, Đại thừa nhập sinh tử để độ sinh.
Phần thứ năm: Như Lai diệt độ, trà-tỳ, cúng dường (如來滅度闍維供養) thuật lại việc Phật nhập Niết-bàn, lễ trà-tỳ và việc phân chia xá-lợi. Nghĩa ký giải thích vì sao gọi là “diệt độ”, chỉ rõ rằng Phật chỉ thị hiện “diệt độ” để giáo hóa, còn Pháp thân thì thường trụ. Phần cuối còn bàn về việc hợp biên “phẩm Kiều-trần-như” và phần “Hậu kinh” để thành một chỉnh thể, đồng thời kêu gọi hàng hậu học hộ trì, tôn kính kinh này.
Tổng quan, Đại Bát-niết-bàn kinh nghĩa ký không chỉ là bản giải thích từ ngữ mà còn là luận thư triết học, nối kết tư tưởng Không của Bát-nhã với học thuyết Phật tánh của Đại thừa. Tác phẩm thể hiện tư tưởng Trung đạo viên dung: Niết-bàn không diệt, Pháp thân thường còn, tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Đây là một công trình chú giải có giá trị triết học, tư tưởng và lịch sử rất lớn, ảnh hưởng sâu rộng đến các tông phái như Thiên Thai, Hoa nghiêm và Thiền tông trong việc xác lập giáo nghĩa “Phật tánh thường trụ” (佛性常住), “nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh” (一切眾生皆有佛性).
Nếu như bản 0374 chỉ có một bản chú giải là Đại Bát-niết-bàn kinh nghĩa ký (大般涅槃經義記) thì bản 0375, tức Nam bản (南本) có rất nhiều bản chú, sớ. Trong số đó, tiêu biểu là bản Đại Bát-niết-bàn kinh tập giải (大般涅槃經集解) do 15 vị cao tăng cùng tham gia trước thuật(23) vào năm Thiên Giám (天監) thứ tám (509) đời vua Lương Vũ Đế (梁武帝).
Đây là bộ chú giải đồ sộ do Pháp sư Bảo Lượng (寶亮) cùng nhiều vị cao tăng đời Lương hợp soạn, nhằm giải thích kinh Đại Bát-niết-bàn số 0375. Tác phẩm không chỉ diễn giải nghĩa lý văn tự mà còn luận giải sâu sắc về lý tánh, phá chấp tà, hiển chân đế. Tư tưởng chủ đạo của chú giải là khẳng định Niết-bàn thường trụ, không sinh không diệt, thường hằng bất biến.
Pháp sư Bảo Lượng và các cộng sự đã chú giải kinh bằng phương pháp tổng hợp nhiều nguồn giải thích khác nhau, so sánh dị thuyết, lựa lấy nghĩa chánh để thống nhất tư tưởng. Các vị nhấn mạnh rằng Niết-bàn không phải là sự đoạn diệt, mà là cảnh giới tịch tịnh, vô sinh, biểu hiện chân lý “Thường, Lạc, Ngã, Tịnh”. Bốn đức này vốn bị hàng Thanh văn, Độc giác cho là ngôn giáo phương tiện; nhưng trong chú giải, chúng được khẳng định là tướng chân thật của Phật tính, không phải tạm có, cũng không do tu mới sinh. Chúng sinh mê vọng nên không nhận biết, nhưng thể tính ấy vẫn thường trụ, không bị sinh tử làm ô nhiễm.
Tác phẩm đặc biệt chú trọng lý “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”. Các luận sư trong chú giải lý giải: Phật tánh không phải là vật thể, cũng chẳng phải là tâm niệm hữu vi, mà là bản thể vô tướng, viên mãn nơi mỗi người. Khi vọng diệt, Phật tánh hiển; khi mê sinh, Phật tánh ẩn, song chưa từng biến mất. Niết-bàn vì thế không phải chỗ đến, mà là chỗ trở về của tâm giác ngộ.
Trong phần giải thích các phẩm, các vị soạn giả nêu rõ rằng thân Như Lai là thân kim cang, không hoại diệt, không thuộc sắc uẩn, biểu thị Pháp thân thường hằng. Thọ mạng Như Lai vô tận, không đồng với sinh diệt của phàm phu, vì Pháp thân không có khởi đầu hay chung cuộc. Những ai tin tưởng, giữ gìn, thuyết giảng, hoặc hộ trì kinh Niết-bàn đều được công đức vô lượng, vì họ gìn giữ Pháp tạng Như Lai.
Chú giải dùng nhiều dụ ngôn trong kinh như dụ ngọc trong chéo áo, dụ người nghèo chứa vàng, dụ mặt trăng không mọc không lặn… để chứng minh Phật tánh tuy bị che mờ bởi vô minh, song vẫn tồn tại trọn vẹn. Bảo Lượng nhiều lần nhấn mạnh rằng, người tu nếu chấp “không” tuyệt đối, xem Niết-bàn là diệt tận, tức rơi vào bốn điên đảo, trái với chân nghĩa của tạng Như Lai. Niết-bàn là “không” mà không đoạn, “hữu” mà không thường; chính trong biện chứng ấy thì đạo lý Trung đạo được thể hiện trọn vẹn.
Phần cuối chú giải bàn về công hạnh của Bồ-tát Sư Tử Hống, tán dương tinh thần tuyên thuyết giáo pháp thâm sâu, phá chấp chư luận, bảo hộ Chánh pháp. Đồng thời đề cao vai trò của Ca-diếp trong việc kế thừa và hộ trì giáo pháp sau khi Phật diệt độ. Qua đó, Bảo Lượng muốn chỉ ra rằng Niết-bàn không phải là sự chấm dứt của Đạo, mà là khởi điểm cho sự truyền thừa vô tận của chân lý.
Có thể nói rằng, Đại Bát-niết-bàn kinh tập giải (大般涅槃經集解) vừa là bản chú giải mang tính học thuật, vừa là văn bản định hướng tư tưởng cho việc học tập, nghiên cứu kinh Niết-bàn trong Phật giáo Trung Hoa. Bằng lập luận chặt chẽ, ngôn ngữ tinh tế, tác phẩm đã xác lập nền tảng cho quan niệm “Phật tánh thường trú, Niết-bàn bất diệt”, trở thành kim chỉ nam cho các thế hệ luận sư sau này khi luận giải giáo lý Đại thừa.
Từ khi được phiên dịch sang Trung Hoa và truyền đến phương Nam, kinh Đại Bát-niết-bàn được nhiều nhà nghiên cứu Phật học ở các thời kỳ quan tâm nghiên cứu, chú giải. Trong Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh đã liệt kê đến 14 bộ chú, sớ. Ngay như trong Khâm định tứ khố toàn thư (欽定四庫全書), bộ tổng tập tư liệu lớn nhất của lịch sử Trung Hoa, về phần chú giải các bộ kinh thuộc bộ Niết-bàn nói chung, cũng ghi nhận có các tác phẩm như: Niết-bàn nghĩa sớ (涅槃義疏), Niết-bàn nguyên nghĩa (涅槃元義), Niết-bàn sớ (涅槃疏), Niết-bàn hậu phần sớ (涅槃後分疏), Niết-bàn nghĩa bình sao (涅槃義評鈔), Niết-bàn kinh chú (涅槃經注), Niết-bàn ký (涅槃記), Niết-bàn kinh hiệp chú (涅槃經夾注), Bách phi sao (百非鈔), Phát nguyên cơ yếu ký (發源機要記), Niết-bàn hội sớ (涅槃㑹疏), Niết-bàn mạt hậu cú (涅槃末後句)(24).
4. Những nội dung chủ yếu của kinh Đại Bát-niết-bàn
Tư tưởng Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh (一切眾生皆有佛性) là hạt nhân triết học của kinh Đại Bát-niết-bàn, thể hiện bước phát triển cao nhất của giáo lý Đại thừa về tính bình đẳng tuyệt đối của mọi hữu tình. Đây là lời khẳng định dứt khoát rằng không một chúng sanh nào bị tách rời khỏi khả năng giác ngộ.
Trong phẩmTánh của Như Lai(25), Đức Phật đã dạy:
Này người thiện nam! Ví như trong nhà người phụ nữ nghèo có kho chứa nhiều vàng ròng, cả nhà già lẫn trẻ chẳng ai hay biết. Một hôm, có người khách lạ khéo biết phương cách, bảo phụ nữ nghèo: “Hôm nay, tôi muốn thuê cô, cô hãy dọn dẹp cỏ rác giúp tôi”. Người phụ nữ đáp: “Tôi không thể làm, nhưng nếu như ông có thể chỉ được kho vàng cho con tôi biết, rồi sau tôi sẽ nhanh chóng đến làm cho ông”. Người kia lại nói: “Tôi biết phương cách, có thể chỉ cho con của cô”. Người phụ nữ đáp: “Cả nhà tôi đây từ già đến trẻ còn không ai biết, huống gì là ông làm sao biết được?”. Người kia lại nói: “Tôi chắc chắn biết”. Người phụ nữ bảo: “Tôi cũng muốn thấy, hãy chỉ cho tôi”. Người khách liền cho đào kho vàng lên, ngay trong ngôi nhà của phụ nữ ấy. Người phụ nữ thấy vậy, vui mừng vô hạn, quá đỗi kinh ngạc, nể phục người khách.
Này người thiện nam! Phật tánh chúng sinh cũng lại như vậy, tất cả chúng sinh chẳng thể thấy được [Phật tánh của mình], như kho báu kia, người nghèo chẳng biết. Này người thiện nam! Nay Ta rộng rãi chỉ bày, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh nhưng bị phiền não che lấp, như phụ nữ nghèo kia có kho vàng ròng mà không thể thấy. Ngày nay, Như Lai rộng rãi chỉ bày cho chúng sinh kho báu chánh giác, gọi là Phật tánh. Tất cả chúng sinh thấy được Phật tánh, khởi tâm hoan hỷ, quy ngưỡng Như Lai. Người khéo biết phương tiện kia chính là Như Lai; người phụ nữ nghèo chính là tất cả vô lượng chúng sinh; kho báu vàng ròng chính là Phật tánh vậy. (Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh dịch)
Từ sự khẳng định: tất cả chúng sinh đều có Phật tánh nhưng bị các phiền não che lấp (一切眾生所有佛性為諸煩惱之所覆蔽) đã dẫn đến quan điểm nhất-xiển-đề cũng có Phật tánh và cũng có khả năng thành Phật, nên nhất-xiển-đề chắc chắn sẽ chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác(26). Cùng mở rộng thêm về quan điểm này, trong khi giải thích về giải thoát, Phật dạy:
Lại nữa, giải thoát còn gọi là rỗng rang tịch lặng, không có bất định. Bất định nghĩa là cho rằng hạng nhất-xiển-đề chung cuộc chẳng đổi thay, người phạm giới trọng không thể thành tựu Phật đạo thì không có điều này. Vì sao như vậy? Vì hạng người này nếu như ở trong Chánh pháp của Phật, tâm được tịnh tín, bấy giờ liền diệt [tội] nhất-xiển-đề. Nếu lại được làm vị ưu-bà-tắc thì cũng có thể diệt [tội] nhất-xiển-đề. Người phạm giới trọng diệt được tội này thì được thành Phật. Thế nên, nếu nói nhất định chẳng đổi thay, chẳng thành Phật đạo thì không có điều này. Giải thoát chân chánh thì không có sự diệt tận như vậy(27). (Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh dịch)
Thứ hai, trong toàn bộ kinh Đại Bát-niết-bàn, tư tưởng “Niết-bàn thường trụ” (涅槃常住) được xem là một trụ cột giáo lý trung tâm, khẳng định bản chất thường hằng, bất hoại và tuyệt đối của sự giải thoát. Khác với quan điểm của một số bộ phái cho rằng Niết-bàn là sự đoạn diệt của sinh tử, kinh này trình bày Niết-bàn như là pháp bất sinh bất diệt, một thực tại tuyệt đối, vượt ngoài phạm trù biến đổi. Như kinh ghi: Như Đức Phật dạy, không sinh không diệt gọi là Đại Niết-bàn (如佛所說, 若不生不滅名大涅槃)(28). Ở đây, Niết-bàn được xác lập như pháp không sinh, không diệt, đồng thời khẳng định đó là cảnh giới chân thật, bất hoại.
Trên cơ sở đó, kinh lại nói: Như Lai thường trụ, không có biến đổi (如來常住,無有變易)(29). Nếu Như Lai là biểu tượng của giác ngộ viên mãn, thì sự thường trụ của Như Lai chính là lời xác quyết rằng chân lý giải thoát là vĩnh viễn tồn tại. Như Lai và Niết-bàn vốn không hai, bởi bản chất của cả hai là Pháp thân thanh tịnh, vượt ngoài mọi sinh tử hữu lậu. Vì vậy, Niết-bàn được xem là thực tại nền tảng, bất biến, siêu việt mọi đối đãi hữu - vô, chứ không phải chỉ cho trạng thái hư vô trống rỗng.
Kinh còn giải thích:
Như lời Phật dạy lìa dục và được tịch diệt, đó gọi là Niết-bàn. Ví như người bị chặt đầu thì không còn đầu nữa; sự lìa dục và tịch diệt cũng lại như vậy, vì rỗng không, không có gì để nắm giữ, nên gọi là Niết-bàn(30).
Cuối cùng, kinh tuyên bố:
Tất cả chúng sinh đều biết rằng Như Lai rốt ráo không hoàn toàn thể nhập Niết-bàn, mà thường trụ, không biến đổi(31). Sự khẳng định này biểu thị Niết-bàn chính là thực thể tồn tại tuyệt đối, siêu việt thời gian và không gian, là cảnh giới của trí tuệ không thể nghĩ bàn.
Do vậy, tư tưởng “Niết-bàn thường trụ” không chỉ có ý nghĩa triết học sâu xa, mà còn là cơ sở của niềm tin và đạo đức thực hành, khẳng định rằng sự giác ngộ là thường hằng và con đường hướng đến Niết-bàn dẫn đến thực tại an lạc, tịch nhiên, bất sinh bất diệt, và chính là cứu cánh tối hậu của Phật đạo.
Thứ ba, Pháp thân thường còn. Chính Đức Phật đã khẳng định:
Này người thiện nam! Thân Như Lai là thân thường trụ, thân không thể hư hoại, là thân kim cang, không phải thân tạp thực(32) mà chính là Pháp thân(33). Và Ngài định nghĩa tiếp: Pháp thân tức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, vĩnh viễn lìa xa tất cả sinh, lão, bệnh, tử; không phải trắng, không phải đen; không phải dài, không phải ngắn; không phải đây, không phải kia; không phải hữu học, không phải vô học. Dù Phật có xuất hiện ở đời hay không xuất hiện thì [Pháp thân ấy] vẫn thường trụ, bất động, không có biến đổi(34).
Ở đây, đoạn kinh này trình bày một cách viên mãn bản thể và tánh đức của Pháp thân (Dharmakāya) Như Lai. Pháp thân được kinh định nghĩa bằng bốn đức: Thường (常): không sinh diệt; Lạc (樂): an vui tuyệt đối; Ngã (我): chủ thể chân thật; Tịnh (淨): thanh tịnh, không nhiễm ô. Đây là bốn đặc tính đối trị bốn tướng của sinh tử (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh), thể hiện sự chuyển hóa từ quan điểm “pháp hữu vi vô thường” sang “pháp vô vi thường trụ” của kinh điển Đại thừa. Kinh nói “Vĩnh viễn xa lìa tất cả sinh, lão, bệnh, tử”, nghĩa là Pháp thân vượt ngoài tiến trình hữu lậu của thời gian và biến dịch. “Không phải trắng, không phải đen; không phải dài, không phải ngắn” là biểu thị rằng Pháp thân không thuộc phạm trù đối đãi, vượt ngoài nhị nguyên, không thể quy định bằng khái niệm vật chất hay tâm lý. “Không phải đây, không phải kia” chỉ rõ tánh vô ngại, bất khả phân định của thực tại tuyệt đối. “Không phải hữu học, không phải vô học” (非學非無學) hàm nghĩa rằng Pháp thân không thuộc vào cảnh giới tu chứng của phàm hay Thánh; nó vốn tự viên mãn, không phải kết quả của tu tập, mà là bản tánh sẵn đủ (自性具足) nơi mỗi chúng sinh. Cuối cùng, câu “dù Phật có ra đời hay không ra đời, Pháp thân vẫn thường trụ, bất động, không biến đổi” là tuyên ngôn tuyệt đối: chân lý giác ngộ không tùy thuộc vào thời gian hay sự xuất hiện của một vị Phật lịch sử. Pháp thân, cũng chính là Niết-bàn thường trụ, vốn thường hằng, bất sinh, bất diệt, là nền tảng của mọi pháp thiện và là chỗ quy hướng của chân lý tối hậu, chung cùng.
![]() |
| “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” - Ảnh: Quảng Kiến |
5. Đóng góp của bộ Niết-bàn về phương diện văn hiến Phật giáo
- Thứ nhất, về phương diện định hướng nhận thức
Một trong những di ngôn sau cùng của Đức Thế Tôn trong kinh Trường bộ (thứ 16), là kinh Đại Bát-niết-bàn được nhiều truyền thống kinh điển ghi nhận:
Vậy nên, này Ānanda, hãy tự mình là hòn đảo cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm hòn đảo, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác (Tasmātihānanda, attadīpā viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā).
Đây là một trong những di ngôn cốt lõi của Đức Phật, dạy Tỳ-kheo A-nan và toàn thể đại chúng rằng, việc nương tựa chính yếu sau khi Đức Thế Tôn diệt độ chính là nương tựa chính mình và nương tựa vào giáo pháp.
Tương đồng với quan điểm ấy, kinh Đại Bát-niết-bàn bản Hán tạng đã mở rộng thêm khi đưa ra những nguyên tắc định hướng nhận thức, đó là quan điểm “Nương tựa vào bốn pháp” (依四法)(35) sau khi Đức Phật diệt độ. Đó là: nương theo pháp không nương theo người (y pháp bất y nhân); nương theo nghĩa lý không nương theo văn từ (y nghĩa bất y ngữ); nương theo trí chứ không nương theo thức (y trí bất y thức); nương theo kinh liễu nghĩa(36) không nương theo kinh bất liễu nghĩa (y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh)(37).
Bốn pháp này được kinh giải thích:
Nương theo pháp, nghĩa là Đại Bát-niết-bàn của Phật. Tất cả pháp Phật chính là Pháp tánh, mà Pháp tánh này chính là Như Lai. Vậy nên, Như Lai thường trụ, không hề biến đổi. Nếu có ai nói Như Lai vô thường, thì đó là người không hiểu biết, chưa thấy Pháp tánh. Người nào không hiểu biết, chưa thấy Pháp tánh, chớ nên nương tựa họ…
Nương theo nghĩa lý không nương theo văn từ: Nghĩa ở đây tức là thấu rõ; nghĩa của thấu rõ tức là không yếu kém; không yếu kém thì gọi là đủ đầy; nghĩa của đủ đầy gọi là Như Lai thường trụ, không biến đổi; nghĩa của Như Lai thường trụ, không biến đổi chính là Pháp thường; nghĩa của Pháp thường tức là Tăng thường. Đây gọi là nương theo nghĩa không nương theo văn từ…
Nương theo trí không nương theo thức: Trí ở đây tức là Như Lai. Nếu Thanh văn nào không khéo biết được công đức Như Lai, [đối với những người] nhận thức như vậy, không nên nương tựa. [Với người] khéo biết Như Lai chính là Pháp thân, đây là người có trí tuệ chân thật, cần nên nương tựa. Như người nào thấy thân phương tiện của Như Lai mà nói rằng: “Đó là thân do ấm, giới và các nhập thâu nhiếp, được nuôi lớn từ thức ăn”, [nhận thức như vậy] cũng không nên nương theo…
Nương theo kinh liễu nghĩa không nương theo kinh chưa liễu nghĩa: Chưa liễu nghĩa tức là nói đến hàng Thanh văn thừa, khi nghe kho tàng sâu xa của Phật Như Lai đều sinh nghi ngờ mà cũng không biết là kho tàng ấy lưu xuất từ biển Đại trí, giống như trẻ con chưa biết phân biệt, như vậy gọi là chưa thể liễu nghĩa. Liễu nghĩa tức nói về hàng Bồ-tát trí tuệ chân thật, thuận theo trí lớn vô ngại nơi tự tâm, giống như người đã trưởng thành hiểu biết mọi việc, như vậy gọi là liễu nghĩa…
Vì vậy hôm nay Như Lai giảng nói bốn pháp nương tựa này. Pháp ở đây chính là pháp tánh; nghĩa ở đây chính là Như Lai thường trụ, không hề biến đổi; trí là thấu tỏ tất cả chúng sinh đều có Phật tánh; liễu nghĩa tức là thông đạt tất cả kinh điển Đại thừa(38). (Trung tâm dịch thuật Trí Tịnh dịch)
- Thứ hai, tiếp biến văn hóa trong dịch ngữ kinh điển
Như đã trình bày, kinh Đại Bát-niết-bàn về cơ bản được phiên dịch từ Phạn sang Hán, dựa trên những tư liệu chép tay và qua bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm. Với ngài Đàm-vô-sấm, Pháp sư Ấn Thuận (印順, 1906-2005) đã từng nhận định: “Có một sự thật hiển nhiên là: trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa, ngài Đàm-vô-sấm (Dharmarakṣa) là một đại dịch giả lỗi lạc”(39).
Ở đây, trong nhiều dịch ngữ cô đọng và đặc thù của ngài Đàm-vô-sấm, chúng tôi chọn một đoạn trong kinh Đại Bát-niết-bàn (大般涅槃經)(40) do ngài phiên dịch để làm rõ ý nghĩa vừa nêu. Đoạn kinh này không những có mối thừa tiếp với Đạo học của Lão Tử mà còn có những liên hệ gần như trùng khớp với phong cách ứng xử của một bậc cao tăng đương đại, thậm chí còn có thể vận dụng linh động vào hiện tình sinh hoạt của Phật giáo ngày nay nói chung.
Kinh ghi:
Này người thiện nam! Như Lai từng nói: Lúc Chánh pháp diệt, Chánh giới hủy hoại, kẻ phá giới tăng thêm, việc phi pháp càng nhiều, tất cả Thánh nhân ẩn cư không hiện, [chúng Tăng] nhận nuôi tôi tớ, chứa vật bất tịnh. Bấy giờ, trong bốn hạng người, sẽ có một người xuất hiện ở đời, cạo bỏ râu tóc, xuất gia hành đạo, thấy các Tỳ-kheo nhận nuôi nô tỳ, tôi tớ, chứa vật bất tịnh mà lại không biết tịnh hay bất tịnh, lại cũng không biết đúng hay trái luật. Vì muốn điều phục các Tỳ-kheo đó, thế nên vị ấy hòa nhập với thế gian nhưng không nhiễm bụi trần. Vị ấy khéo léo phân biệt biết rõ hành xứ của mình và hành xứ của Phật, tuy thấy những người đó phạm Ba-la-di nhưng vẫn im lặng mà không cử tội. Vì sao như vậy? [Vì vị ấy nghĩ rằng]: “Ta xuất hiện nơi đời vì muốn kiến lập và hộ trì Chánh pháp”, thế nên vị ấy im lặng mà không cử tội. Này người thiện nam! Những người như thế tuy có sai phạm nhưng vì hộ trì Chánh pháp nên không thể gọi họ là người phá giới. (Trung tâm Dịch thuật Trí Tịnh dịch)
Điều đặc biệt kỳ thú ở đoạn kinh nêu trên chính là dịch ngữ: “Hòa nhập với thế gian nhưng không nhiễm bụi trần”. Nguyên tác kinh văn là: “Dữ cộng hòa quang bất đồng kỳ trần” (與共和光不同其塵).
Theo khảo sát, cụm từ trên vốn lưu xuất từ một mệnh đề nằm trong tác phẩm Đạo đức kinh (道德經) của Lão Tử (老子), với nguyên tác là: “Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” (和其光,同其塵). Mệnh đề này được dịch giả Nguyễn Duy Cần dịch là: “Điều hòa ánh sáng, đồng cùng bụi bặm” và cũng được Lý Minh Tuấn dịch là: “Hòa với ánh sáng, đồng với bụi bặm”.
Với ngài Đàm-vô-sấm, từ một mệnh đề mang tính phổ biến trong Đạo đức kinh nhưng việc lược bỏ đi đại từ “kỳ” (其), thêm giới từ “dữ” (與) và một phó từ “cộng” (共) và một phủ định từ (不), trong khi chuyển dịch kinh Đại Bát-niết-bàn, đã thể hiện trí tuệ kiệt xuất, văn thể tài hoa nhằm đặc tả hạnh nhập thế của hàng Bồ-tát. Ý kinh này có những liên hệ tương đồng với lời Phật dạy trong kinh Dhammika, thuộc Kinh Tập (Sn.14): Bhikkhu yathā pokkhare vāribindu (Tỳ-kheo như giọt nước/ Không dính trên lá sen. HT.Thích Minh Châu dịch).
Có thể nói, từ lời Phật dạy được tóm lược trong kinh Đại Bát-niết-bàn: “Hòa quang bất đồng kỳ trần” (和光不同其塵) qua bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm và lời dạy của Lão Tử trong Đạo đức kinh: “Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” (和其光, 同其塵) tuy chỉ khác biệt một vài chữ nhưng nghĩa lý cách xa nhau muôn dặm.
Thứ ba, là tiền đề hưng khởi của nhiều hệ tư tưởng, chuyên chở nhiều tư liệu quý hiếm về ngôn ngữ
Trước hết, với quan điểm “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” dù đó là hạng nhất-xiển-đề, đây là một quan điểm tích cực, tiến bộ được khởi phát từ kinh Đại Bát-niết-bàn. Truyện của ngài Đạo Sanh trong Cao tăng truyện đã phần nào phản ánh điều đó:
Lại nữa, khi bản kinh Đại Bát-nê-hoàn (大般泥洹經), gồm sáu quyển mới được truyền đến kinh đô, Pháp sư Đạo Sanh nghiên cứu, phân tích nghĩa lý của kinh, thấu triệt đến chỗ sâu kín vi diệu. Ngài bèn nói rằng: “Hạng nhất-xiển-đề đều được thành Phật”. Khi ấy, bản kinh lớn [bản của Đàm-vô-sấm] vẫn chưa được truyền đến, nên ngài là người đầu tiên chiếu rọi ánh sáng riêng, thấy được điều mà người khác chưa thấy, trái ý với số đông. Những vị cựu học cho đó là tà thuyết, nên cơ hiềm chê bai thậm tệ; cuối cùng, ở giữa đại chúng họ tẩn xuất rồi đuổi ngài đi. Ngay giữa đại chúng, Pháp sư Đạo Sanh vẫn ung dung nghiêm nghị phát nguyện rằng: “Nếu điều ta nói trái với nghĩa lý của kinh, thì ngay trong đời này trên thân hiện ra tướng bệnh khổ nặng nề; còn nếu điều ta nói không trái với thực tướng, thì nguyện đến khi xả báo thân này, sẽ ngồi trên tòa sư tử”. Nói xong, ngài rủ áo mà đi… Về sau, khi đại bản kinh Niết-bàn được truyền đến Nam Kinh, quả nhiên có nói: “Hạng nhất-xiển-đề đều có Phật tánh”, hoàn toàn phù hợp với những điều mà [Đạo Sanh] đã nói trước đó(41).
Quan điểm “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” cũng được Đại sư Trí Khải (智顗) của tông Thiên Thai quan tâm. Trong Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa (妙法蓮華經玄義), Thiên Thai Trí Giả Đại sư (天台智者大師) đã dẫn rằng:
Lại nữa, trong kinh Niết-bàn, quyển 25, có nói: “Điều gọi là cứu cánh rốt ráo tức là tất cả chúng sinh đều thành tựu Nhất thừa. Nhất thừa này được gọi là Phật tánh. Vì nghĩa ấy, nên ta nói rằng: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tất cả chúng sinh đều có Nhất thừa”. Do đó, kinh Pháp hoa là giáo pháp Nhất thừa, và về mặt nghĩa lý huyền diệu thì thông hội với kinh Niết-bàn(42).
Kế đến, kinh Đại Bát-niết-bàn chuyên chở nhiều tư liệu quý hiếm về phương diện ngôn ngữ. Trong phẩm “Văn tự” (文字品) có đề cập đến nhiều khái niệm thuộc chuyên ngành ngôn ngữ. Chẳng hạn như khái niệm “tự căn bản” (字根本), tức là “tự mẫu” (字母 - P. akkhara; S. akṣara, D. अक्षर), là những chữ cái của một hệ ngôn ngữ nào đó mà ở đây là Phạn ngữ. Theo Niết-bàn kinh nghĩa ký(43): Tự, tiếng Phạn gọi là a-sát-la (akṣara), Trung Hoa dịch nghĩa là vô tận (無盡). Trong Phạn ngữ, theo Đại trí độ luận(44): 42 mẫu tự là căn bản của tất cả các chữ. Ngoài ra, khái niệm “bán tự” (半字) và “mãn tự” (滿字) cũng lần đầu tiên được ghi nhận ở bộ kinh này. Theo ngài Tăng Hựu (僧祐) trong Bài ký về sự tương đồng và khác biệt trong âm nghĩa khi dịch kinh từ Phạn sang Hán (胡漢譯經音義同異記, Hồ Hán dịch kinh âm nghĩa đồng dị ký) đã giải thích rằng:
Một âm của chữ Phạn không thể thành câu, phải dùng nhiều âm tiết để hoàn thiện câu, rồi nghĩa mới thành. Người dịch diễn ý chẳng phải vất vả lắm sao? Thế nên Phạn thư soạn ra “bán tự” và “mãn tự”. Sở dĩ gọi “bán tự” vì nghĩa chưa đầy đủ nên thể thức của chữ lệch về một bên, giống như chữ “nguyệt” trong Hán ngữ thiếu mất một nét. Sở dĩ gọi là “mãn tự” vì nghĩa lý đã đạt đến chỗ cứu cánh, nên thể thức của chữ tròn đầy giống như chữ “nhật” với hình thể tròn đầy vậy(45).
Nói rõ hơn, mãn tự (滿字) chính là nguyên âm (P. akkhara; S. akṣara (अक्षर) và bán tự (半字) chính là phụ âm (P. vỵañjana, S. byañjana)(46).
Về nghĩa lý kinh điển, theo Niết-bàn luận (涅槃論)(47), bán tự là chỉ Tiệm giáo, mãn tự là Niết-bàn. Vì giáo nghĩa đầy đủ nên gọi là mãn tự, thâu nhiếp toàn bộ công đức, quả vị trong giáo pháp của Phật nên gọi là mãn tự; giáo nghĩa của hàng Thanh văn, Độc giác không đầy đủ nên gọi là bán tự. Theo truyền thống Phạn ngữ, bảng chữ cái Siddhaṃ hoặc Devanagari thường bao gồm khoảng 46-50 mẫu tự (gồm nguyên âm, phụ âm và ký tự ghép), tùy thuộc vào cách phân loại. Và đặc biệt, phẩm “Văn tự” của kinh Đại Bát-niết-bàn đã lần lượt giới thiệu đầy đủ 50 mẫu tự Phạn ngữ và được gắn kết với những ý nghĩa giáo pháp.
6. Kết luận
Từ những khảo sát về lịch sử hình thành, quá trình phiên dịch, nội dung giáo nghĩa và giá trị tư tưởng, có thể khẳng định rằng bộ kinh Đại Bát-niết-bàn nói chung là một trong những tác phẩm kinh điển vĩ đại và có ảnh hưởng to lớn trong hệ thống Phật giáo Đại thừa. Không chỉ trình bày về sự diệt độ của Đức Phật, kinh Niết-bàn còn là cánh cửa mở ra chiều sâu triết học về bản thể tuyệt đối, nơi sinh tử và Niết-bàn dung thông, hữu và vô không hai, và chân lý được thể nghiệm trong thực tại thường trụ.
Trên phương diện lịch sử văn hiến, bộ Niết-bàn là một minh chứng tiêu biểu cho quá trình giao lưu và tiếp biến tư tưởng Phật giáo Ấn Độ - Trung Hoa. Qua những nỗ lực của các dịch giả như Đàm-vô-sấm, Pháp Hiển, Trúc Pháp Hộ,… bộ kinh Niết-bàn nói chung dần được hình thành, hiệu đính và lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Mỗi lần dịch không chỉ là quá trình chuyển ngữ mà còn là sự chuyển hóa tư tưởng, giúp Phật giáo hòa nhập với văn hóa bản địa, làm phong phú thêm đời sống tinh thần phương Đông. Đặc biệt, ngôn ngữ dịch thuật của Đàm-vô-sấm với những sáng tạo như “Hòa quang bất đồng kỳ trần” (和光不同其塵) đã cho thấy khả năng dung hợp tuyệt vời giữa ngữ học Phật giáo và tinh thần Đạo học Trung Hoa, tạo nên những giá trị văn chương và triết lý vượt thời gian.
Về tư tưởng triết học, kinh Đại Bát-niết-bàn đánh dấu một bước phát triển rực rỡ của giáo lý Đại thừa. Tư tưởng “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” khẳng định niềm tin vào khả năng giác ngộ phổ quát, phủ định mọi hình thái bi quan hay định kiến về căn cơ. Niết-bàn không còn được hiểu là cảnh giới diệt tận, mà là “Pháp thân thường trụ”, là bản thể thanh tịnh, bất sinh bất diệt của vạn pháp. Từ đó, học thuyết “Pháp thân thường còn” và “Tứ đức Niết-bàn” được xác lập như là nền tảng triết học Đại thừa. Tư tưởng ấy vừa mang tính giải thoát, vừa có giá trị nhân bản sâu sắc: Mỗi con người đều tiềm tàng khả năng thành Phật, và chính niềm tin ấy trở thành động lực cho bất kỳ ai nỗ lực vươn lên.
Về giá trị học thuật, các bộ chú sớ như Niết-bàn kinh nghĩa ký của ngài Tuệ Viễn hay Niết-bàn kinh tập giải do ngài Bảo Lượng và các bậc cao tăng đời Lương thực hiện đã góp phần hệ thống hóa, lý giải và khai triển nghĩa lý của kinh một cách sâu sắc. Những tác phẩm này không chỉ là chú giải văn tự mà còn là các trước tác triết học độc lập, đặt nền tảng cho sự hình thành của các tông phái lớn như Thiên Thai, Hoa Nghiêm, và Thiền tông. Nhờ đó, tư tưởng Niết-bàn thường trụ và Phật tánh phổ quát được khẳng định như tinh hoa của Đại thừa, hệ tư tưởng vừa vượt thoát nhị nguyên, vừa dung nhiếp mọi pháp, đưa triết lý Phật giáo lên tầm cao của một hệ thống tư duy hoàn chỉnh.
Xét về ảnh hưởng tư tưởng và văn hóa, bộ Niết-bàn không chỉ là tài sản kinh điển của Phật giáo mà còn là di sản tinh thần của nhân loại. Những giáo nghĩa được trình bày trong kinh đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực như triết học, đạo đức học, ngôn ngữ học, và văn hóa Đông Á. Quan điểm “nương theo pháp, không nương theo người” hay “nương trí, không nương thức” đã trở thành kim chỉ nam cho phương pháp nhận thức và tu tập của Phật giáo nói chung qua các thời đại.
Tóm lại, bộ Niết-bàn không chỉ là bộ tập hợp các kinh điển ghi lại lời dạy cuối cùng của Đức Phật, mà còn là một trong những đỉnh cao của tư tưởng Đại thừa, nơi hội tụ tinh hoa của triết học, đạo đức và nhân sinh quan Phật giáo. Trải qua hơn một nghìn sáu trăm năm lưu truyền, kinh Đại Bát-niết-bàn vẫn giữ nguyên giá trị sống động, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho những ai khát ngưỡng tìm kiếm những giá trị đích thực từ lời Phật dạy và đưa chúng vào mảnh đất thực tiễn nhiệm mầu.
---------------------
(1)Ngũ đại bộ kinh (五大部經) là năm bộ kinh điển lớn, bao gồm: (1) KinhHoa nghiêm (Avataṃsaka Sūtra, 華嚴經); (2) KinhPháp hoa (Saddharma Puṇḍarīka Sūtra, 法華經); (3) Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajñāpāramitā Sūtra, 般若波羅蜜多經); (4) Kinh Lăng-già (Laṅkāvatāra Sūtra, 楞伽經); (5) Kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinirvāṇa Sūtra, 大般涅槃經). Xem tại Khai Nguyên Thích giáo lục lược xuất 開元釋教錄略出 (T.55. 2155.1. 0724a06-0726b29); Duyệt tạng tri tân 閱藏知津 (J.31. B.271. 0772c07).
(2)Khai Nguyên Thích giáo lục 開元釋教錄 (T.55. 2154.1. 0481a02).
(3)Sđd,(T.55. 2154.1. 0479a09).
(4)Xuất Tam tạng ký tập 出三藏記集 (T.55. 2145.2. 0006c15); Cao tăng truyện (T.50. 2059.1. 0325a25).
(5)Căn cứ vào dịch phẩm La-ma-già kinh (羅摩伽經), là một trong 2 bộ kinh do ngài Tam tạng An Pháp Hiền dịch vào thời Tào Nguỵ, là cơ sở cho thấy bản Đại Bát-niết-bàn kinh (大般涅槃經) cũng được dịch vào giai đoạn này. Xem Khai Nguyên Thích giáo lục 開元釋教錄 (T.55. 2154.14. 0628b19).
(6)Đại Châu san định chúng kinh mục lục 大周刊定眾經目錄 (T.55. 2123.2. 0385a10).
(7)Phật thuyết Phương đẳng Bát-nê-hoàn kinh 佛說方等般泥洹經 (T.12. 0378. 0912a19).
(8)Theo Đại Châu san định chúng kinh mục lục 大周刊定眾經目錄 (T.55. 2153.4. 0394a14). Tuy nhiên, theo khảo cứu của Ōno (Ōno Hōdō, 大野法道. Daijō kai kyō no kenkyū 大乗戒経の研究. Tokyo: Risōsha 理想社, 1954) cho rằng, nhan đề gán cho Cưu-ma-la-thập dịch là căn cứ từ các mục lục về sau như Đại Châu san định đã dẫn và không thấy trong các bộ kinh lục sớm hơn.
(9)Tập nhất thiết phước đức tam-muội kinh 集一切福德三昧經 (T.12. 0382. 0988c24).
(10)Phật Tổ thống kỷ 佛祖統紀 (T.49. 2035.36. 0342c07).
(11)Phật thuyết Đại Bát-nê-hoàn kinh 佛說大般泥洹經 (T.12 0376. 0853a03).
(12)Xuất Tam tạng ký tập 出三藏記集 (T.55. 2145.2. 0011b11).
(13)Đại Bát-niết-bàn kinh 大般涅槃經 (T.12. 0374. 0365c02).
(14)Cao tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.17. 0368a20).
(15)Bản Tống, Cung ghi là “tam thập quyển” (三十卷). Ba mươi quyển này chỉ cho phần giữa và phần sau, cộng với 10 quyển phần đầu thì có 40 quyển, như bản đang hiện có trong tạng Đại Chánh.
(16)Cao tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.2. 0336b01-08).
(17)Cao tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.2. 0336c11-17).
(18)Tức là Lưu Tống Văn Đế (劉宋文帝, 407-453), tên húy là Lưu Nghĩa Long (劉義隆), niên hiệu là Nguyên Gia (元嘉, 424-453).
(19)Cao tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.2. 0337a24-27).
(20)Đại Đường Tây Vực cầu pháp Cao tăng truyện 大唐西域求法高僧傳 (T.51. 2066.1. 0004a05-08).
(21)Đại Bát-niết-bàn kinh nghĩa ký 大般涅槃經義記 (T.37. 1764. 0613a03).
(22)Không phải ngài Thích Huệ Viễn (釋慧遠, 334-416) ở Lô Sơn (廬山).
(23)Đại Bát-niết-bàn kinh tập giải 大般涅槃經集解 (T.37. 1763. 0377a03). 15 vị cao tăng tham gia trước thuật tác phẩm này bao gồm: Đạo Sanh, Tăng Lượng, Pháp Diêu, Đàm Tế, Tăng Tông, Bảo Lượng, Trí Tú, Pháp Trí, Pháp An, Đàm Chuẩn, Đàm Ái, Tuệ Lãng, Đàm Sám, Minh Tuấn, Tuệ Đản (道生, 僧亮, 法瑤, 曇濟, 僧宗, 寶亮, 智秀, 法智, 法安, 曇准, 曇愛, 慧朗, 曇讖, 明駿, 慧誕).
(24)Khâm định tứ khố toàn thư, Chiết Giang Thông Chí, quyển 246, mục Kinh tịch, thứ 6, Tử bộ trung, Thích tạng ( 欽定四庫全書, 浙江通志, 卷二百四十六,經籍六,子部中,釋藏).
(25)Đại Bát-niết-bàn kinh“Như Lai tánh phẩm” 大般涅槃經如來性品 (T.12. 0375.12. 0648b10-26).
(26)Đại Bát-niết-bàn kinh “Sư Tử Hống Bồ-tát phẩm” 大般涅槃經師子吼菩薩品 (T.12. 0375.23.1. 0769a16): 一闡提等定當得成阿耨多羅三藐三菩提.
(27)Nguyên tác: Đại Bát-niết-bàn kinh“Tứ tướng phẩm”大般涅槃經四相品 (T.12. 0375.7.2. 0633b22).
(28)Đại Bát-niết-bàn kinh“Sư Tử Hống Bồ-tát phẩm” 大般涅槃經師子吼菩薩品 (T.12. 0375.23.3. 0783c26).
(29)Đại Bát-niết-bàn kinh“Nguyệt dụ phẩm” 大般涅槃經月喻品 (T.12. 0375.15. 0657c03).
(30)Nguyên tác: Đại Bát-niết-bàn kinh“Tứ tướng phẩm”大般涅槃經四相品 (T.12. 0375.7.1. 0627b27): 如佛言曰: 離欲寂滅名曰涅槃. 如人斬首則無有首; 離欲寂滅亦復如是, 空無所有故名涅槃.
(31)Nguyên tác: Đại Bát-niết-bàn kinh “Phạm hạnh phẩm”大般涅槃經梵行品 (T.12. 0375.20.3. 0715b13): 一切眾生悉知如來終不畢竟入於涅槃, 常住不變.
(32)Nguyên tác: Tạp thực thân (雜食身), hay còn gọi là Thực thân (食身): thân được nuôi dưỡng bởi vật thực. Theo S. 46.2 - V. 64: Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ kāyo āhāraṭṭhitiko, āhāraṁ paṭicca tiṭṭhati, anāhāro no tiṭṭhati (Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú, HT.Thích Minh Châu dịch); Niết-bàn kinh sớ tam đức chỉ quy 涅槃經疏三德指歸 (X.37. 0662.3. 0343c04): thực thân tức là thân vô thường vậy (食身即無常身也).
(33)Nguyên tác: Đại Bát-niết-bàn kinh “Kim cang thân phẩm”大般涅槃經金剛身品 (T.12. 0375.5. 0622c14): 善男子! 如來身者, 是常住身, 不可壞身, 金剛之身, 非雜食身, 即是法身.
(34)Nguyên tác: Đại Bát-niết-bàn kinh“Ca-diếp Bồ-tát phẩm”大般涅槃經迦葉菩薩品 (T.12. 0375.24.1. 0813c01-04): 法身即是常, 樂, 我, 淨, 永離一切生, 老, 病, 死, 非白, 非黑, 非長, 非短, 非此, 非彼, 非學, 非無學. 若佛出世及不出世, 常住不動, 無有變易.
(35)Nguyên tác: Đại Bát-niết-bàn kinh “Tứ y phẩm”大般涅槃經,四依品 (T.12. 0375.5. 0642a21).
(36)Nguyên tác: Liễu nghĩa kinh (了義經): những kinh mà nghĩa lý đã đạt đến chỗ giải thoát rốt ráo, không còn nghĩa nào khác vượt ngoài đó nữa, nên gọi là liễu nghĩa. Tham chiếu: Đại trí độ luận 大智度論 (T.25.1509.9. 0125b07).
(37)Nguyên tác: Bất liễu nghĩa kinh (不了義經): kinh điển do Phật phương tiện giảng nói để dẫn dắt người sơ cơ thì gọi là kinh chưa liễu nghĩa. Nghĩa lý trong những kinh này vẫn nói lên những lẽ chân thật, đúng đắn, nhưng chỉ là chưa được trọn vẹn, rốt ráo. Tham chiếu: Đại trí độ luận 大智度論 (T.25.1509.9. 0125b12).
(38)Nguyên tác: Đại Bát-niết-bàn kinh“Tứ y phẩm”大般涅槃經四依品 (T.12. 0375.5. 642a21-0643b09)
(39)Ấn Thuận Pháp sư Phật học trước tác tập 印順法師佛學著作集 (Y.28. 0028.4. 0213a09). Nguyên tác: 一事實: 中國佛教史上, 曇無讖 (Dharmarakṣa) 是一位卓越的大譯師.
(40)Đại Bát-niết-bàn kinh 大般涅槃經 (T.12. 0375.8. 640b10-22).
(41)Cao tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.7. 0366c2-0367a05). Nguyên tác: 又六卷《泥洹》先至京師, 生剖析經理, 洞入幽微, 迺說一闡提人皆得成佛. 于時大本未傳, 孤明先發, 獨見忤眾. 於是舊學以為邪說, 譏憤滋甚, 遂顯大眾, 擯而遣之. 生於大眾中正容誓曰: 「若我所說反於經義者, 請於現身即表厲疾; 若與實相不相違背者, 願捨壽之時, 據師子座.」 言竟拂衣而遊.…後《涅槃》大本至于南京, 果稱闡提悉有佛性, 與前所說合若符契.
(42)Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa 妙法蓮華經玄義 (T.33. 1716.10. 0803a19-23).
(43)Đại Bát-niết-bàn kinh nghĩa ký 大般涅槃經義記 (T.37. 1764.4. 0707c08). Nguyên tác: 字者外國名阿察羅此方義翻名為無盡.
(44)Đại trí độ luận 大智度論 (T.25. 1509.48 0408b12). Nguyên tác: (四十二字是一切字根本).
(45)Xuất Tam tạng ký tập 出三藏記集 (T.55. 2145.1. 0004b24-28): 胡字一音不得成語必餘言足句然後義成譯人傳意豈不艱哉又梵書製文有半字滿字所以名半字者義未具足故字體半偏猶漢文月字虧其傍也, 所以名滿字者理既究竟故字體圓滿猶漢文日字盈其形也.
(46)Trong truyền thống Phật học Sanskrit - Hán, khái niệm “mãn tự” (S. akṣara; P. akkhara; 滿字) được dùng để chỉ “âm tiết trọn vẹn/ hoàn chỉnh”, có thể phát ra âm độc lập, thường bao gồm phụ âm + nguyên âm. Tương tự, khái niệm “bán tự” (S. vỵañjana; P. byañjana; 半字) trong Sanskrit có nghĩa gốc là “phụ âm”, chỉ cho âm thanh cần có nguyên âm đi kèm, chưa đủ âm độc lập để phát ra hoàn chỉnh.
(47)Niết-bàn luận 涅槃論 (T.26. 1527.1. 0278c17). Nguyên tác: 半字者漸教, 滿字者涅槃. 滿足教故名滿字, 攝佛教果功德盡名滿字. 聲聞緣覺教不滿足故名半字.
(NSGN 364 - 365)


