Tiếp nối và truyền bá Chánh pháp Như Lai là bổn phận của Tăng-già. Phật giáo Việt Nam thời kỳ nào cũng có những bậc danh tăng thạc đức nối nắm mạng mạch, hoằng truyền đạo pháp sâu rộng. Thời cận đại, Việt Nam xuất hiện nhiều thế hệ Tăng tài nối tiếp nhau chấn hưng Phật giáo. Trong khoảng thế kỷ XX, Đức Trưởng lão Hòa thượng thượng Minh hạ Châu là bậc danh tăng đức trí vẹn toàn, đóng góp lớn trong nhiều lĩnh vực quan trọng để chấn hưng và phát triển Phật giáo. Ngài đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo hội. Hòa thượng đã phát huy sở trường, dành thời gian tranh thủ dịch thuật, chuyển ngữ tạng kinh Pāli sang tiếng Việt, hình thành bộ Đại tạng kinh chữ Việt đầu tiên tại Việt Nam. Đặc biệt, Hòa thượng có nhiều đóng góp lớn lao vào việc giáo dục Phật giáo nước nhà.
Nhà giáo dục mẫu mực: kế thừa và sáng tạo
Giáo dục Phật giáo là việc làm đòi hỏi sự bền bỉ, trí tuệ, sáng tạo và khoa học. Người xưa từng nói: “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”. Biến đồi trọc thành rừng xanh ai cũng có thể làm được, nhưng chuyển tâm đổi tánh, giúp một người hướng đến chân trời cao rộng, nhận lại viên ngọc sáng sẵn có, đòi hỏi phải là bậc thầy có đầy đủ bi, trí, tài và đức.
Hòa thượng từng dạy: “Chúng ta thấy rõ Phật tử Việt Nam không những đòi hỏi ở chư Tăng một học vấn uyên bác, mà hơn tất cả, cần nhất ở chư Tăng một tác phong của người tu hành, thanh tịnh, chân thành, điềm đạm, từ hòa, giải thoát, trong tất cả thời, tại tất cả chỗ, những đức hạnh mà họ không bao giờ tìm được ở ngoài đời”(1). Chân thành, điềm đạm, từ hòa là khí chất toát ra từ một nội tâm đã dừng lặng, vắng bặt và thanh tịnh. Người có đạo lực, định lực thì hình nghi đĩnh đạc, điềm đạm; có trí lực, tuệ lực, giải thoát lực thì tự tại mà nghiêm trang, thong dong mà thoát tục.
Hòa thượng nói: “…Chương trình giảng dạy phải được soạn thảo, vừa nặng về phần quán thông, vừa đi sâu vào phần chuyên khoa nghiên cứu… Sự thử thách phải áp dụng một phương pháp dạy mới và học mới để tiết kiệm thời gian và kiện toàn vấn đề nghiên cứu, cũng là một thử thách nan giải, đòi hỏi rất nhiều thiện chí và phương tiện”(2). Đứng trước yêu cầu của giáo dục Phật giáo mang tính thời đại và cấp thiết, đòi hỏi một chương trình mới vừa mang tính kế thừa nhưng cũng sáng tạo, phù hợp với thời đại và căn cơ, Hòa thượng đã khéo vận dụng những kiến thức nội điển, phương pháp nghiên cứu học thuật… đã được học trong thời gian du học vào việc tổ chức chương trình đào tạo Phật học cho Tăng Ni, Phật tử. Nhờ vậy việc làm của ngài được thành tựu.
Như vậy cho thấy, giáo dục Phật giáo không chỉ đơn thuần là việc truyền dạy những kiến thức trong giáo điển mà còn là một hành trình nuôi dưỡng tâm hồn, đạo đức và trí tuệ cho cả tu sĩ và cư sĩ Phật giáo. Cốt lõi của giáo dục Phật giáo là chỉ ra chân lý rốt ráo sẵn có nơi mỗi người. Hành giả phải khéo nương kinh giáo để nhận ra và sống bằng chính nó, mới có tuệ để không còn mê lầm và định để có diệu lực vượt thoát.
Muốn thế, hành giả cần phải để tâm nghiên cứu kinh luận cho thấu đáo rồi thực hành tu tập. Nếu không xem kinh giáo thì không thể biết phương pháp tu hành để đi đến chân lý rốt ráo tuyệt đối. Nhưng nếu dùng tâm phan duyên để đọc học, tức đã lao ra bên ngoài chạy theo chữ nghĩa mà quên mất chính mình, chưa khỏi lăng xăng ồn náo. Vậy phải nghiên cứu tu học như thế nào mới khế hợp? Dùng tâm giác sáng, lặng mà biết để nghiên cứu kinh luận mới có thế đạt đến chỗ tột cùng của việc nghiên cứu kinh điển. Đó chính là điều mà giáo dục Phật giáo cần hướng đến, dạy cho hành giả phương pháp học tập giáo điển một cách thẳng tắt đến cốt lõi thì việc tu hành mới đạt đến rốt ráo.
Hòa thượng từng nói: “Giáo dục theo đạo Phật chú trọng lấy trí tuệ (Duy tuệ thị nghiệp) diệt trừ si mê, si mê trừ, thời tham và sân cũng được diệt trừ luôn. Chỉ cần có một kiến thức, một quan điểm, một cái nhìn đúng đắn (giác ngộ), thời mọi hành vi thiện ác, tham sân đều được diệt trừ (giải thoát)”(3). Như vậy, con đường mà ngài đã đi luôn khế hợp với lời dạy của Đức Phật, luôn đưa cao ngọn đuốc trí tuệ trong mọi hoàn cảnh.
Tinh thần trách nhiệm, trí tuệ, khoa học được hiện bày bàng bạc trong đời sống tu tập và hành đạo của Hòa thượng. Ngài từng dạy phương pháp học Phật để đi đến thành tựu: học đạo, hiểu đạo, hành đạo và chứng đạo. Ngài nói: “Vậy muốn có nhiều kết quả trong sự học đạo, người Phật tử cần phải có thái độ chân chánh, hợp lý, hợp lẽ phải, cần phải hiểu phương pháp học đạo”(4).
Nhìn lại, trong suốt quá trình học pháp, hành pháp, hoằng pháp và giáo dục, Hòa thượng đã thật sự đầu tư vào cái lõi để xác định mục tiêu, đích đến rõ ràng. Từ đó, có con đường, có biện pháp, xác định được điều kiện để thực hiện một cách hiệu quả. Đây vừa có tính khoa học, vừa là sự tu hành đi thẳng vào mục đích chính của đạo Phật là giác ngộ giải thoát, không sai lệch.
Viên thành tâm nguyện
Hành trình mà Đức Trưởng lão Hòa thượng đã đi qua đủ chứng minh ngài là một nhà giáo dục xuất sắc, là một nhà lãnh đạo Phật giáo tài ba. Ngài đã dành nhiều tâm huyết cho công tác giáo dục Phật giáo, thành lập và điều hành nhiều trường Phật học, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Phật giáo nước nhà. Chúng ta có thể thấy rõ sự dấn thân này qua một số công tác, chức vụ quan trọng mà ngài được chư tôn đức trong Giáo hội giao phó, nổi bật hơn hết là phụng sự cho nền giáo dục Phật giáo nước nhà còn ghi lại trong sách sử.
Hòa thượng luôn quan tâm đến việc xây dựng Tăng đoàn hòa hợp, tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thế giới. Chú trọng giáo dục, truyền bá Phật học, tạo điều kiện cho Tăng Ni Việt Nam được giao lưu học hỏi với Tăng Ni Phật giáo quốc tế, giúp họ mở rộng tầm nhìn và cập nhật những kiến thức mới. Nhờ ân đức cao vời ấy, rất nhiều thế hệ Tăng Ni đã thành tựu pháp học, pháp hành; cho đến nay, vẫn còn nhiều bậc tôn túc từng là học trò của ngài, đang thực hành theo gương hạnh của ngài, nhiệt tâm nỗ lực phụng sự cho đạo pháp, phục vụ cho Giáo hội, lợi lạc quần sinh.
Kết luận
Đức Trưởng lão Hòa thượng thượng Minh hạ Châu, bậc thạc đức chốn tòng lâm, là cội cổ thụ che mát cho biết bao thế hệ Tăng Ni, Phật tử. Ngài không chỉ là một bậc thật học chơn tu, một học giả uyên bác nội thông kinh điển, ngoại tường thế học, thông thạo nhiều ngôn ngữ, mà còn là một trong những bậc thầy dịch thuật kinh điển Phật giáo uy tín và có ảnh hưởng lớn tại Việt Nam. Hòa thượng đã dành nhiều tâm huyết và thời gian để phiên dịch, chuyển ngữ tạng kinh Pāli sang tiếng Việt, góp phần làm phong phú kho tàng tri thức Phật học cho Phật giáo Việt Nam. Bên cạnh đó, ngài còn là bậc đi đầu trong công tác tổ chức giáo dục, mở mang các trường Phật học, là người giữ trụ chính trên đỉnh cao của đại học Phật giáo.
Cuộc đời ngài là một bài học lớn, một tấm gương sáng ngời để cho các thế hệ Tăng Ni và Phật tử noi theo. Sự thành công trong sự nghiệp dịch thuật, công tác giáo dục, hoằng pháp và cách sắp xếp Phật sự cũng như điều hành công việc của ngài là bài học kinh nghiệm có giá trị cao vời đối với hậu thế. Những thành tựu này cần nhờ vào nhiều nhân duyên. Trưởng lão Hòa thượng là bậc tôn đức tu hành nhiều đời, phát đại nguyện, khởi đại tâm mới hội đủ các duyên thù thắng để đạt thành sở nguyện.
Phải là người sống bằng tự tánh, năng lượng, nội lực đong đầy mới có thể phổ hóa từ tâm, biến lưu trí đức, bao dung tất cả. Hòa thượng không phân biệt Đại thừa Tiểu thừa, chẳng luận tại gia xuất gia, bất kỳ ai tìm đến cầu học ngài đều tiếp độ. Hòa thượng là vị tôn đức có đời sống mạnh mẽ, tinh thần lạc quan, tích cực trong vai trò và trọng trách của mình: hoằng dương Chánh pháp, hướng dẫn Phật tử, tiếp chúng độ Tăng, tổ chức tu hành tự viện, trông coi công việc bổn viện… Mỗi mỗi đều được dung thông, thành tựu. Ngài quả là một viên ngọc sáng chói trên nền trời Phật giáo Việt Nam, cho hàng hậu bối noi theo siêng học, vui tu, không nề lao nhọc phụng sự chúng sinh cho đến ngày hạnh nguyện giác ngộ giải thoát đạt thành viên mãn.
---------
(1)HT.Thích Minh Châu (2005), Đức Phật của chúng ta, “Phụ lục - a. Bức thư Thầy Minh Châu kính gửi chư Tăng trong dịp thọ tuế Phật lịch 2506”, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội, tr.326.
(2)HT.Thích Minh Châu (2005), Sđd, “Sứ mệnh của Viện Cao đẳng Phật học”, NXB.Tôn Giáo, tr.246-247.
(3)HT.Thích Minh Châu (2001), Chánh pháp và hạnh phúc, “Một nền giáo dục toàn diện”, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội, tr.229.
(4)HT.Thích Minh Châu (2005), Đức Phật nhà đại giáo dục, “Phương pháp học Phật”, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội, tr.115.
(NSGN 361)
