Câu chuyện bên ngôi tháp cổ

Duyên may đưa chúng tôi đến chùa Hoàng ân, thôn Quảng Bá, xã Quảng An, quận Tây Hồ một chiều thu Hà Nội. Ngôi chùa được gắn biển “Di tích lịch sử văn hóa đã xếp hạng”. Thả bước theo khuôn viên tĩnh lặng của chùa, chúng tôi xúc động dừng lại trước một tấm khung khiêm tốn, nét chữ rất điêu luyện trên trang giấy trắng khổ A0 trang trọng nội dung sau:

02 Cau chuyen-20909-300.jpg

Hòa thượng Bình Lương tên thật là Phạm Ngọc Đạt (tức cụ Sư Ba) sinh năm 1882 tại xã Sơn Bằng, Hương Sơn, Hà Tĩnh, trụ trì tại chùa Từ Tế, thành phố Bangkok, Thái Lan

Hòa thượng Bình Lương tham gia phong trào cách mạng từ thời kỳ Phan Đình Phùng khởi nghĩa và sang Thái Lan sau thời gian đó cùng sư cụ Hồ Thiện.

Hòa thượng Bình Lương trụ trì chùa Từ Tế với lòng nhiệt tình yêu nước thiết tha, mong muốn nước nhà tự do độc lập. Hòa thượng hết lòng ủng hộ cách mạng. Chùa Từ Tế là nơi đã nuôi dưỡng và che giấu cán bộ cách mạng hoạt động bí mật.

Ngay từ năm 1930 – 1935, ngôi chùa Hòa thượng Bình Lương trụ trì đã là nơi tiếp đón, nuôi giấu các đồng chí của ta, trong đó có nhiều đồng chí hiện nay ở cương vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt từ năm 1940 trở đi, chùa Từ Tế do Hòa thượng Bình Lương trụ trì đã là nơi các cán bộ đi lại hội họp, đi về hoạt động trong nước và sang Lào giúp đỡ phong trào cách mạng Lào.

Từ năm 1945, giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch được toàn thể nhân dân đoàn kết chiến đấu. Nhiều Việt kiều ta ở Lào, Campuchia phải tạm lánh sang Thái Lan để tiếp tục chống Pháp.

Chùa Từ Tế lại là nơi không chỉ có cán bộ đi lại hội họp hoạt động mà còn là nơi bộ đội chiến sỹ qua lại, đi từ trong nước hoặc qua Miên, qua Lào cùng tạm trú nơi này. Từ năm 1950 khi Chính phủ phản động Thái Lan dồn ép Việt kiều, Hòa thượng vẫn kiên quyết giữ cho ngôi chùa là nơi đi lại hợp pháp của cán bộ ta để hoạt động.

Hòa thượng Bình Lương thấm nhuần sâu sắc đức tính từ bi của đạo Phật. Khi Việt kiều tản cư sang Thái Lan đã được giúp đỡ ở chùa, có nhiều người được nuôi nấng ăn học chu đáo.

Ngày 9.3.1963 do sức khỏe giảm sút và thể theo nguyện vọng thiết tha, Hòa thượng Bình Lương đã được về nước sống những năm tháng cuối đời trên quê hương thân yêu và được gặp lại Hồ Chủ tịch kính mến.

Do sự thỏa thuận của ta và Hội Hồng Thập Tự Thái Lan, ta đã tổ chức một chuyến máy bay đặc biệt đưa cụ từ Bangkok qua Viênchăn, Lào về Hà Nội. Bệnh viện Việt - Xô đã cử hai bác sỹ sang Viênchăn đón cụ về và cũng từ 9.3.1964 nhiều lần Bác Hồ vào thăm Hòa thượng tại Bệnh viện Việt - Xô.

Hòa thượng Bình Lương viên tịch ngày 20.4.1966 thọ 84 tuổi. Tang lễ được cử hành tại chùa Quán Sứ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt Hồ Chủ Tịch đến đặt vòng hoa kính viếng. Ban Tôn giáo Phủ thủ tướng cùng tăng ni tín đồ Hà Nội đã làm lễ an táng Hòa Thượng tại chùa Long ẩn, thôn  Quảng Bá, Quảng An. Đây là một tổ đình lớn thuộc phái Tào Đồng, Thủ đô Hà Nội.

Chắp nối nội dung đặc biệt nói trên, chúng tôi không biết diễn đạt nào hơn để nói rằng, năm 2005 cũng nhờ duyên may chúng tôi được tới một trong những ngôi chùa cổ Việt Nam ở giữa Thủ đô Bangkok, Thái Lan. Tấm biển đá hoa cương chỉ còn chữ Thái và chữ Trung Quốc, có thể phiên âm là “Vắt Lô-ca-nụ-khrọ”. Diện mạo ngôi chùa ngày nay rất khó nhận ra dấu tích Việt bởi kết quả của đợt trùng tu hồi cuối năm 2000. Tư liệu chụp còn lưu giữ trong Việt kiều cho biết suốt giai đoạn từ lúc xây lại chùa cho tới năm 2000, tấm biển lớn trước cửa chùa ghi bằng chữ Việt rất rõ “ Từ Tế Tự”. 

Tiến sâu vào phía sau chùa, dưới ánh đèn lờ mờ, chúng tôi nhìn thấy một bia đá kích thước khoảng 1m x 1,8m. Tấm bia được khắc bằng ba ngôn ngữ, theo thứ tự từ trái sang phải: Việt – Thái – Trung Quốc. Đại ý phần tiếng Việt cho biết: ngày 28.4.1952 khởi công việc dỡ bỏ chùa cũ đã hơn 1000 năm để xây dựng chùa mới. Người chủ trì công việc là Sư cả pháp danh Bình Lương, tên thật là Phạm Ngọc Đạt. Ông rời Việt Nam sang Thái Lan lúc khoảng 22 tuổi. Năm 1914 ông quy tụ tại chùa Khánh Thọ. Trụ trì chùa là Hòa thượng Hạnh Nhơn đã cho ông Đạt pháp danh Thượng Trương Thiệt Hạ Bình, tên chữ là Bình Lương. Năm 1937 sư Bình Lương được cử trông nom chùa Phổ Phúc Phong. Ông được các vị vua thứ 7 và thứ 9 của Thái Lan phong sắc vào các năm 1937 và 1948. Nhờ vậy, sư Bình Lương đã đứng ra xin phép xây lại chùa Từ Tế và cho khắc tấm bia này để đời sau biết.

Trở lại với ngôi chùa tĩnh lặng bên Hồ Tây, chúng tôi thành kính thắp nén nhang lên bát hương giản dị trong ngôi tháp cổ, tưởng nhớ tới vị sư yêu nước đã chia tay cõi trần gần nửa thế kỷ.

Làm công việc thuần túy cầu nối giữa hai nội dung phản ánh rất vắn tắt về Hòa thượng Bình Lương ở Thái Lan và ở Việt Nam, chúng tôi không khỏi suy nghĩ tới những tình tiết lịch sử vẫn chưa được đề cập: Vì sao giữa thời kỳ khó khăn của đất nước, vị lãnh tụ nổi tiếng tiết kiệm như Bác Hồ lại biết và đối đãi hết sức khác thường, bố trí máy bay riêng, kèm hai bác sỹ để thỏa ước muốn trở về quê hương của một chân tu? Vì sao bận trăm công ngàn việc thời chiến mà Bác Hồ dành thời gian vào tận Bệnh viện Việt - Xô (chắc chắn rằng khi đó phải sơ tán đâu đó để tránh bom giặc) nhiều lần thăm vị chân tu đó? Cũng nhờ duyên may, vâng quả là như vậy, chúng tôi còn nghe lưu truyền từ những cán bộ tham gia bảo vệ Bác Hồ kể rằng khi Hòa thượng Bình Lương đã rất yếu, có lần Bác đến thăm, nắm tay Hòa thượng và lưu luyến gọi tên cúng cơm “Đạt,.. Đạt..”  Thế rồi mắt cả hai cụ đều rớm lệ. Dẫu khó kiểm chứng mức độ xác thực của câu chuyện nhưng qua đó cũng cho thấy rằng tuy không gặp nhau khoảng hơn 30 năm, tính từ thời điểm Bác Hồ rời Thái Lan đến khi Hòa thượng Bình Lương về Hà Nội, nhưng Bác Hồ hết sức quý trọng Hòa thượng.

Là thế hệ hậu sinh, từ các tình tiết mà một số tư liệu lịch sử đã nêu chúng tôi mạo muội suy luận thêm: Hòa thượng Bình Lương chắc chắn có đóng góp vô cùng quan trọng cho hoạt động của Bác Hồ ở Thái Lan giai đoạn những năm 1928-1929, thời khắc quyết định sự ra đời của Đảng Cộng sản nước ta. Tiếp đó, liên tục cho tới khi trở về Việt Nam, Hòa thượng dũng cảm cống hiến lớn lao cho phong trào cách mạng. Và hơn thế, nhân cách, đạo đức vĩ đại của Bác Hồ đã khiến vị chân tu đắc đạo, được hai lần phong sắc bởi các vị Vua nắm ngai vàng của đất nước Thái Lan tôn sùng Phật giáo như Quốc đạo, nhất quyết rũ bỏ tất cả, trở về  Hà Nội đang mịt mù khói lửa bởi niềm thôi thúc ước nguyện được gặp Bác Hồ.

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Thông tin hàng ngày