Thật vô cùng thú vị khi đọc đến đoạn kể về thiền sư Liễu Quán thường xuống vớt rong dưới con sông chảy ngang trước mặt chùa Thiền Tôn làm đồ ăn hàng ngày, không có cơm hoặc thức ăn gì khác. Một vị chúa Nguyễn đi săn ghé vào thảo am thấy giấu những mớ rong dưới bàn mới phát giác được chuyện Thiền sư ăn rong trừ cơm.
Tôi vội vàng lên lại chùa và đi tìm con sông.
Thật bất ngờ trước và xung quanh chùa không có con sông nào cả, hỏi thăm các cư dân ở trong vùng họ bảo ở đây không có sông mà chỉ có khe và suối nhỏ.
Tự nhiên trong tôi, dòng sông trở thành một thúc bách ám ảnh. Dòng sông là một ẩn dụ? Sông, suối hay khe đây? Với ba trăm năm biết bao vật đổi sao dời, sông biến thành suối hay khe cũng là chuyện thường tình. Ba trăm năm trước núi rừng Thiên Thai đầy cọp dữ với những cây cao cổ thụ bạt ngàn. Đứng trên núi Ngự Bình có thể định vị đỉnh núi Thiên Thai và các hòn núi đá bên cạnh nó xanh ngắt nhưng bây giờ trống trơn, xói mòn và có nơi nhà cửa san sát.
Tôi trở vào chùa, lúc đó hoàng hôn đã xuống và ở đâu đó trong ngôi chùa vẫn còn dư âm về dòng sông này…
Câu đối trước bảo tháp Tổ Liễu Quán
Chùa Thiền Tôn với thời gian
Vào thời các chúa Nguyễn, xứ Thuận Hóa đã có vô số chùa chiền và thảo am. Năm 1690, thiền sư Liễu Quán từ phủ Phú Yên đi theo thuyền buôn ra Thuận Hóa, khai sơn thảo am Viên Thông (1697) phía Nam dưới chân núi Ngự Bình. Năm 1708, khai sơn thêm một thảo am ở chân núi Thiên Thai. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí mô tả ngọn núi này như sau: “Núi Thiên Thai ở phía Tây Bắc huyện Hương Thủy, hình thế cao vót, phía Tây trông ra cánh đồng, cạnh núi có chùa, ngọn núi vòng quanh ôm chầu vào chùa, phong cảnh tuyệt đẹp…”. Thảo am tọa lạc tại đia phận ấp Ngũ Tây, xã An Cựu, tổng An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Đến năm 1742, thiền sư Liễu Quán viên tịch, 5 năm sau (1747) chùa Thiền Tôn được chúa Nguyễn Phúc Khoát ban biển ngạch sắc tứ. Cũng vào năm này, Đoàn Tài Hầu đứng ra vận động thiện nam tín nữ đúc đại hồng chung, chuông có niên đại Cảnh Hưng năm thứ 8.
Năm 1777, chùa Thiền Tôn được sửa sang lần thứ nhất. Năm 1799, Hoàng đệ Thái Tể, ủy cho Đại Tư Mã tái tạo, sửa sang chùa lần hai. Năm 1803, khi Gia Long đã lên ngôi hoàng đế, Hòa thượng Trung Hậu xin lại đại hồng chung và chuông lại được mang về chùa Thiền Tôn (vào thời Tây Sơn, hồng chung bị đem làm tự khí ở Văn Thánh). Năm 1900, sửa sang lần thứ ba… như vậy trải qua gần 200 năm chùa Thiền Tôn ba lần tụ, ba lần tán.
Năm 1937, đệ tử đời thứ 10 của thiền sư Liễu Quán là Hòa thượng Trừng Thủy - Giác Nhiên tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Năm 2000, chùa được trùng tu với tam quan, tháp chuông, điện thờ, hậu liêu… đồ sộ trang nghiêm.
Dòng sông trong huyền thoại
Nhiều tác giả, mỗi người nói một cách khác nhau về câu chuyện thiền sư Liễu Quán ăn rong để sống trong tiểu sử của ngài. Có người cho rằng ngài ăn rong khe, uống nước suối độc (Hà Xuân Liêm), người thì nói thiền sư ăn rong ở hồ (Tầm rong độ nhật… khi thiền sàng chỉ là bông cây thảm cỏ, rong xanh đáy hồ đã duy trì mạch mạng sắc thân… HT.Thích Khế Chơn) và người thì khẳng định ngài ăn rong nơi con sông trước mặt chùa v.v…
Vậy thì sự thật thì rong lấy ở đâu? Sông, hồ, khe hay suối?
Dù câu chuyện thiền sư Liễu Quán ăn rong để sống có thể là huyền thoại nhưng chúng tôi nghĩ nếu tìm được nơi ngài đã từng lấy rong quả thật là hạnh phúc tuyệt vời cho những ai tìm ra chốn ấy.
Thử vẽ phác trong tâm trí cảnh một sơn Tăng lội xuống sông vớt một bè rong mang về thảo am và đến trưa thì ngọ trai bằng thứ rong đó thay cơm. Cơm hay rong đối với ngài cũng chẳng khác chi nhau như ngài đã từng viết: “Không không sắc sắc diệc dung thông”.
Thử tưởng tượng bước chân hành thiền của vị Sa di một mình, đơn độc trong rừng vắng đầy cọp beo và rắn độc mỗi lần đi vớt rong để sống qua ngày…
Và khi về già, trước lúc viên tịch ngài đã nói cùng môn đồ: “Quý vị đừng khóc. Các Đức Phật thị hiện còn nhập Niết bàn, còn tôi thì đường đi nẻo về đã rõ ràng, không việc chi phải khóc…”. Đối diện với sanh tử, ngài thật tự tại và thảnh thơi.
Theo dấu người xưa
Sau khi tham khảo các tài liệu về địa lý vùng Thiên Thai, Ngự Bình, Trường Bia, Thiên An, Trúc Lâm, Ba Đồn... và các chùa gần đó như Viên Thông, Tra Am, Tây Thiên, Trúc Lâm, Hồng Ân, Diệu Viên cùng bảo tháp của thiền sư… trên sử liệu rồi mới vẽ sơ đồ dự đoán trước khi thăm dò quan sát thực địa, sửa soạn lặn lội đến những nơi có thể tới được để tìm ra gốc gác mạch nguồn của dòng sông thiêng liêng ấy, tôi đã để tâm hồn trống rỗng.
Dòng sông bây giờ
Một chỉ dẫn được hướng đạo từ vô thức không lý giải: Dòng sông huyền thoại đó đã hiện ra trước mắt tôi, cho dù thiên nhiên và con người đã làm biến dạng khuôn mặt thế gian nhưng hình ảnh vị Sa di trẻ tuổi đang trên đường đi tìm giải thoát mà phải ăn rong qua ngày để duy trì mạng sống đã trở thành một ấn tượng, hướng những bước chân tôi đến đó.
Tôi vẫn tin những vần thơ của Nguyễn Du trong bài Vọng Thiên Thai tự là sự thật:
“Thiên Thai sơn tại đế thành đông
Cách nhất điều giang tự bất không
Cổ tự thu may hoàng diệp lý
Tiên triều tăng lão bạch vân trung
Khả liên bạch phát cung khu dịch
Bất dữ thanh sơn tương thủy chung
Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh Hưng chung quải cựu thời trung”.
Tạm dịch: “Núi Thiên Thai ở phía Đông hoàng thành/Cách một DÒNG SÔNG nhỏ không đến được/Mùa thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng/Vị sư triều trước già trong mây trắng/Chạnh thương mình đầu bạc rồi vẫn phải chịu để người sai khiến/Không cùng với núi xanh giữ được niềm thủy chung/Nhớ năm trước ta từng một lần đến đây/Còn thấy có treo quả chuông đúc thời Cảnh Hưng ngày trước”.
Nguyễn Du đã đến viếng chùa Thiền Tôn hai lần, lần này có lẽ ông không vào chùa được vì bị vướng một dòng sông, nên chỉ đứng bên này sông mà ngắm cảnh chùa. Bài thơ sáng tác vào thời gian 1805-1812 khi ông được thăng hàm Đông Các Đại Học Sĩ, làm quan ở kinh đô Phú Xuân.
Và tôi nghĩ hướng về Tổ Liễu Quán với những bước chân trong rừng thông vắng lặng, tai cố nghe tiếng róc rách chảy qua khe đá, tiếng rì rầm của dòng suối hay sự lặng thinh của một con sông đang chảy âm thầm dịu dàng dưới chân núi Thiên Thai, mũi cố ngửi thấy mùi rong mới vớt, miệng lưỡi cố quên vị tanh tao và nhạt nhẻo của rong và trước mắt là một khoảng không gian mờ ảo…
Dòng sông, dòng sông, dòng sông ở đâu? Âm thanh ấy vang lên từ một cõi mơ hồ nào đó vọng lại hay từ tiền kiếp xa xưa?
Hình ảnh vị Sa di trẻ tuổi hiện ra trước mắt tôi, vị mà về sau này đã trở thành Tổ sư của Thiền phái Liễu Quán, dòng sông nằm trước mặt người về hướng Tây, bên kia sông là một ngọn núi đúng như hai câu đối nơi cổng đi vào bảo tháp của Người: “Bửu đạt trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy. Pháp thân độc lộ y nhiên tạo lý khán thanh sơn” (Tiếng linh báu ngân dài cùng dòng nước biếc trước cửa chảy hoài không dứt. Pháp thân lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh) đã mô tả.
Và tôi cũng chợt thoát ra khỏi dòng suy tưởng, vội vàng định vị ngay tọa độ mình đang đứng: Đó là trước cửa tam quan nơi bảo tháp của Thiền sư Liễu Quán. Tôi chỉ còn dùng bước chân mình để đo khoảng cách từ chân hồ sen đến dòng sông.
Ngày hôm sau, tôi cùng mấy người bạn cũ chống gậy, vạch lau, đạp cỏ leo lên một triền núi nhỏ, rồi đi qua một cánh đồng dốc thoai thoải theo dấu chỉ dẫn của HT.Thiện Siêu là cách phía sau tháp độ 800 mét để đến chùa xưa, am cũ.
Bây giờ, trước bảo tháp của thiền sư Liễu Quán là một con đường đất đỏ, một khoảng đất trống chừng một mẫu và nghe đâu chủ nhân của mảnh đất này muốn thực hiện một… và dòng sông thì vẫn còn đó, nhưng biến dạng đến đau đớn.
Nếu có một lần nào đó bạn được nhìn sông Tô Lịch của Hà Nội, ba mươi sáu phố phường hôm nay và thật diễm phúc cho những ai như quan Phủ sứ Đặng Vân đã nhìn thấy dòng sông ấy khi công chúa Huyền Trân rời kinh đô Đại Việt về Vijaya.
Và cũng như vậy, tâm trạng của thi hào Nguyễn Du khi đứng trước dòng sông huyền thoại của thiền sư Liễu Quán: "Chạnh thương mình đầu bạc rồi vẫn phải chịu để người sai khiến/Không cùng với núi xanh giữ được niềm thủy chung”.
Còn bạn, xin hãy ghé thăm ngôi tháp Tổ và con sông huyền thoại bây giờ.
