Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quảng: "Hạnh phúc của người tu"

Ảnh: Phùng Anh Quốc
Ảnh: Phùng Anh Quốc
0:00 / 0:00
0:00
GNO - Mọi việc làm trên cuộc đời này từ khi sanh ra, lớn lên, rồi già, chết, rõ ràng người ta luôn luôn vật lộn với cuộc sống để hưởng thụ mọi cái vui của cuộc đời. Nhưng khi nó qua rồi, nghĩ lại thấy chính những thứ này hành hạ chúng ta.

Tôi tâm đắc hai câu thơ của thầy Thông Bác thể hiện ý này rằng:

Nghiệp người vướng sắc mắc danh

Tỉnh ra danh sắc tự hành hạ nhau.

Nghiệp đời trước thôi thúc người ta làm mọi việc, nghĩa là tâm hành hạ thân, dẫn họ vào con đường tội lỗi, khổ đau. Và khi thân làm thì ảnh hưởng lại tâm; vì thế thân khổ, tâm khổ theo. Thân và tâm tự hại nhau, nhưng dừng được nghiệp, sanh được tâm tốt thì hết khổ.

Tôi nghĩ cuộc sống vật chất không cần nhiều như người ta tưởng, chỉ vì lòng tham không đáy khiến cho con người phải khổ, đi vào tù tội, ở địa ngục trần gian cho đến địa ngục sau khi chết. Một người kiếm được vài chục ngàn đồng một ngày, họ vẫn sống được, nếu ham muốn ít. Người lòng tham quá lớn, muốn có thật nhiều tiền, bắt đầu nghĩ việc ác xấu như buôn lậu, trộm cướp, giết người, lừa đảo...; nhưng họ bị bắt một lần là trắng tay, nợ chồng chất và lại tìm việc ác hơn để giải quyết cái ác trước. Cứ như vậy, ác xấu tăng lên, dẫn đến cuộc sống tội lỗi, khổ đau, không thể khác.

Đức Phật dạy chúng ta dừng lại những việc ác xấu sẽ có hạnh phúc, Niết-bàn liền. Trên bước đường tu, thực hiện được một việc tốt nào theo Phật dạy là được hưởng ngay thành quả tốt đẹp, nhưng người có nghiệp ác khó chấp nhận lời Phật dạy. Họ cứ nghĩ rằng phải có nhiều tiền của, địa vị cao, mới có hạnh phúc. Trong đời thường, không ít người bị ghét vì có nhiều tiền, không ít người phải chết vì muốn nắm địa vị cao.

Người có hạt giống Phật nghe Phật dạy, thấm thía ý này, tham vọng dừng lại sẽ có Niết-bàn, hạnh phúc. Hạnh phúc ở đâu và hạnh phúc là gì. Hạnh phúc của Sa-môn, của người tu hành có được, vì họ không đòi hỏi gì cả.

Thiết nghĩ, trên bước đường tu, ai cũng có thể gặt hái được hạnh phúc. Dẹp bỏ những đòi hỏi, ham muốn là có hạnh phúc liền. Vì muốn người thương, nhưng họ không thương, nên khổ. Muốn người nghe lời, nhưng họ không nghe, nên khổ. Muốn được chức vụ cao, nhưng không được, nên khổ. Muốn ở nhà sang trọng, ăn sung mặc sướng, nhưng bất tài, không thể có được, nên khổ…

Biết bao nhiêu là nghiệp khổ chồng chất lên thân tâm con người đều phát xuất từ lòng ham muốn. Kể cả muốn tốt như muốn xây chùa cũng khổ. Bất cứ cái muốn nào cũng có cái giá phải trả. Đức Phật dạy chúng ta bớt ham muốn, cho đến hết ham muốn, Niết-bàn tự hiện, ở hoàn cảnh nào cũng có hạnh phúc.

Người tu ngăn chặn tâm ham muốn, vào đời với tâm trong sáng, người dễ quý mến. Các thầy không toan tính gì, không cần tiền thì đến đâu cũng được tiếp đón; nhưng nghĩ xin tiền xây chùa, thì dù đến thăm, người ta cũng lánh mặt. Người vô tâm mới có cuộc sống tự tại.

Hòa thượng Thích Trí Quảng

Lòng ham muốn không bao giờ đủ, kinh Bát đại nhân giác dạy rằng “Lòng tham cầu như ý khó vừa”. Vì vậy, Đức Phật thành đạo, đến Lộc Uyển, dạy pháp Tứ Thánh đế cho năm anh em Kiều Trần Như. Đó là pháp tu để chặn đứng nghiệp ham muốn. Lòng tham nặng sẽ hiện trên ánh mắt, cử chỉ, hành động, khiến cho người không tin tưởng, khiếp sợ.

Tỳ-kheo diệt tâm ham muốn, tâm lắng yên như mặt nước hồ thu thì người trông thấy không sợ, không đề phòng, mà còn phát tâm muốn tu theo. Chim đậu trên vai Đức Phật một cách tự nhiên, vì Ngài không có tâm sát hại, voi khỉ đến dâng hoa quả vì tình thương của Ngài bao phủ chúng.

Người tu ngăn chặn tâm ham muốn, vào đời với tâm trong sáng, người dễ quý mến. Các thầy không toan tính gì, không cần tiền thì đến đâu cũng được tiếp đón; nhưng nghĩ xin tiền xây chùa, thì dù đến thăm, người ta cũng lánh mặt. Người vô tâm mới có cuộc sống tự tại.

Chúng ta dừng tâm đứng yên, công đức tụ lại, phước đời trước sẽ hiện ra và khởi tu trên cái phước mà chúng ta có. Tất cả những gì mà chúng ta tu tạo được ngày nay đều nhờ căn lành kiếp trước, phước đời trước. Phước lớn thì sanh ra đời đã có của báu đầy nhà như Thiện Tài đồng tử. Phước báu nhỏ, chúng ta cũng có một điều kiện tốt để đi lên, nên tạo thêm, đừng phá hủy.

Được thân người, ai cũng có phước. Phước lớn thì làm việc lớn, phước nhỏ thì làm nhỏ. Từ căn bản này chúng ta phát triển lên, đừng xa rời thực tế mà muốn được cho nhanh, chỉ chuốc lấy thất bại. Đối với người tu, phước lớn nhất là tâm bình an và trí sáng suốt, cần nuôi dưỡng và phát triển hai thiện căn này.

Thật vậy, điểm đặc biệt của người tu khác hơn người thường là có tâm bình an và trí sáng suốt. Tâm bình an và trí sáng suốt là đỉnh cao của Phật giáo, dù ở trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, tâm vẫn thanh thản thì trí trở nên sáng suốt, mới quyết định được mọi việc một cách đúng đắn.

Một thiền sư Nhật nói với tôi rằng Phật giáo Việt Nam có điểm đặc sắc là định và huệ. Cốt lõi của nhà sư là định và huệ. Định gọi là Tam muội, chữ Phạn là Samadhi, Trung Hoa dịch là Tam ma đề, hay Tam ma địa. Tu sĩ mà không nhập định được, không sống trong Chánh định, thì chỉ là sư hình thức.

Khi Phật tại thế, trong 1.250 vị A-la-hán, chỉ có duy nhất một vị A-la-hán nhập định trong mọi trường hợp là Tôn giả A Nan. Tất cả các vị A-la-hán khác nhập định thì không biết việc bên ngoài và khi xả định, trở ra đời sống bình thường thì lại mất định. Cho nên, phần lớn họ thích ẩn tu để giữ Chánh định.

Trong lịch sử ghi rằng lúc Ca Diếp triệu tập 500 A-la-hán để kiết tập kinh điển, tất cả các vị này đều ở trong trạng thái giống nhau là nhập định, không nói thì làm sao kiết tập. Bấy giờ, phải tìm một vị A-la-hán đặc biệt là A Nan có khả năng nhập định trong cảnh động loạn. Lúc đó, A Nan mới chứng quả A-na-hàm. Tại sao Ngài không đắc Thánh quả, vì Ngài chọn một loại định để nhập mà vẫn hành đạo được thì khó quá.

Theo kinh nghiệm riêng tôi, chứng được bất cứ Tam muội nào cũng đều làm cho ta có được tâm bình an một cách kỳ diệu. Tôi cầu chứng Pháp hoa Tam muội, dù chưa được Tam muội, nhưng tâm bình an là tiền Tam muội.

Thiết nghĩ trên bước đường tu, cố tập cho tâm bình an, tất cả mọi việc xảy ra xung quanh, ta không bận tâm. Tôi được dụng công này, mới nói rằng “Trần duyên thuận nghịch, tâm không thiết”. Ta coi trần duyên ở thế giới này chỉ là trò ảo hóa, không đáng quan tâm. Được mất thành bại không để ý, được mà còn phải bỏ nữa là. Cho đến ngày nay, tôi làm được một số việc là nhờ lúc nào cũng ráng giữ được tâm bình an.

Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quảng trước di ảnh cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quang tại Dư hương thất, chùa Từ Đàm, Huế - Ảnh: Quảng Điền

Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quảng trước di ảnh cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quang tại Dư hương thất, chùa Từ Đàm, Huế - Ảnh: Quảng Điền

Một thiền sư Nhật nói rằng bình an trước hiểm nguy có thể may ra còn sống được, không bình an chắc chắn phải chết. Nhất là giây phút rời bỏ thế giới này, phải bình an niệm Phật, nhớ nghĩ đến Phật để vãng sanh. Nếu mất Chánh định là mất trắng, không biết đi về đâu. Từ tâm bình an lóe ra trong lòng tia sáng gọi là trí tuệ; như vậy là kết hợp được định và huệ.

Các vị A-la-hán khác hơn ngài A Nan là chứng được Thánh quả nhanh hơn, vì các ngài chuyên tu. Nhập định đầu tiên là nhập Diệt tận định trước. Muốn tâm bình an, phải bỏ quên tất cả mọi việc, nên không biết gì, thì vào định ngay lập tức là Diệt tận định. Tôi có một khoảng thời gian cũng tu tập định này, buông bỏ tất cả việc thì khả dĩ vào định. Nhưng làm trụ trì khó buông bỏ, vì mới sửa soạn vào định thì Phật tử đến thỉnh đi cúng, làm sao vào định.

Vì vậy, ngài Trí Giả khuyên chúng ta muốn tu, điều thứ nhất, phải dứt tất cả các duyên vụ, tức là Sa-môn không có trách nhiệm gì cả thì vào định được, đó là định đầu tiên ai cũng phải có là tâm bình an. Phải bỏ hết mới bình an được. Cho nên dứt tất cả duyên vụ là điều quan trọng đối với người tu. Tu hành mà không dám buông bỏ, nên ta không vào định được thì công phu không có, khi đụng việc, tham sân sẽ nổi dậy liền và chết không biết về đâu.

Trong cuộc đời của Trí Giả, ngài thấy rõ rằng nếu ở triều đình giảng kinh, có chùa cao Phật lớn, nhưng ngài vẫn không nhận và ngài bỏ lên Ngọc Tuyền ở. Ở chùa lớn được cung kính, nhưng tâm luôn bất an, vì phải đem sự bất an của quần chúng đặt vào tâm mình, làm sao an được.

Thật vậy, thực tế tôi thấy các Phật tử đến với tôi đều có việc bất an, họ mới cầu Phật, cầu thầy. Đầu tiên chúng ta tiếp nhận sự bất an của thiên hạ, từ bất an của một người cho đến nhiều người đem để vào lòng, làm sao chúng ta an. Ngài Vạn Hạnh nói rằng đem tâm đặt vô chỗ an thì an, còn đem tâm đặt vào chỗ bất an của xã hội không thể nào an được.

Muốn tâm bình an, đầu tiên, các thầy phải đem tâm mình đặt ở núi rừng, tức không có việc quấy nhiễu mới được bình an. Đặt tâm vào xã hội có đủ thứ rối bời như người làm ăn thua lỗ, người thân tù tội, người bệnh… Riêng tôi, làm Trưởng ban Trị sự Phật giáo thành phố, mỗi ngày tôi giải quyết đủ thứ việc rắc rối. Không ai an mà đến với thầy. Nếu các thầy tu thực sự dễ dàng nhận ra điều này. Chùa lớn, Phật tử đông, bận rộn nhiều việc, không thể vào định. Vì vậy, tối thiểu chúng ta phải dành một khoảng thì giờ để thực tập. Tôi thường dành 3, 4 giờ sáng để thực tập, vì lúc đó không bị ai quấy rầy nữa, nhưng cũng phải tắt nguồn điện thoại di động, vì nếu người ta hữu sự cũng vẫn gọi mình.

Phải có thì giờ dành riêng cho việc tu tập. Nhiều năm trước, tôi có nguyện ba tháng An cư kiết hạ, không đi ra khỏi chùa; nhưng khi nhận trách nhiệm Trưởng ban Hoằng pháp, tôi phải đi giảng kinh. Phật tử có mời đến nhà, tôi cũng không đi, ngay cả đệ tử qua đời, tôi cũng không đi cầu siêu. Nhờ vậy, tôi nhẹ được một phần khả dĩ giữ được tâm định.

Tôi tập Pháp hoa Tam muội, thì đi thuyết pháp vẫn tập ở trong định. Ngài Trí Giả dạy chúng ta tập đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, thuyết pháp, sáu oai nghi này đều ở trong thiền. Nếu quý thầy thành tựu pháp này thì hành Bồ-tát đạo không đọa, trong hoàn cảnh nào, tâm cũng bình an và sáng suốt là từ định đi vào cuộc đời. Tổ sư diễn tả ý này là bất xả Pháp giới, biến nhập trần lao.

Không xả Pháp giới là không bỏ định thì không bực bội, buồn phiền. Còn bỏ định, gặp việc đáng giận là giận. Nhiều thầy tu lâu mà dễ nổi nóng, vì bỏ định vào trần lao. Vì vậy, có vào trần lao, quý thầy nhớ giữ tâm mình định.

Theo kinh nghiệm của riêng tôi, nếu chúng ta mất Chánh định sẽ dễ nổi nóng và nổi nóng thì hư việc. Càng gặp việc khó, càng phải bình tĩnh, đó là kinh nghiệm của thiền sư và của Lý Thánh Tông. Ông làm vua, nhưng là vua thiền sư, nghĩa là ông tu trên điện ngọc, tu trên chiến trường, khó khăn mới cần thiền để thấy việc chính xác, gọi là định của Pháp hoa.

Trong kinh Pháp hoa, có câu mở đầu rất hay: “Phật nói kinh Vô lượng nghĩa xong, Ngài nhập Vô lượng nghĩa xứ Tam muội”; đó là định của Vô lượng nghĩa, hay định của Pháp hoa. Thông thường chúng ta nhập Diệt tận định, hay định của Thủ lăng nghiêm gọi là nhập đại định: “Diệu trạm tổng trì bất động tôn…”. Còn vào định của Vô lượng nghĩa, hay định của Pháp hoa, tất cả hiện tượng trong trời đất thế nào, ta thấy đúng như vậy, nhưng nó không tác động ta; không phải ta từ bỏ cuộc đời để đi vào định. Cuộc đời là cuộc đời, ta vẫn là ta.

Khi Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ Tam muội, trời mưa hoa Mạn-đà-la, Mạn-thù-sa là Thiên hoa, tức thấy an vui, mát mẻ, sáng suốt. Riêng tôi, khi thấy việc khó, không giải quyết được thì cứ để yên nó, không cưu mang giúp được thì để mặc nó, vì cuộc đời này quá đau khổ, quá nhiều đòi hỏi, làm sao ta cứu nổi. Tôi đã có ý này, 40 năm trước, Hòa thượng Trí Tịnh nói một câu khiến tôi tỉnh thức. Ngài hỏi tôi có nghĩ mình thương chúng sanh hơn Phật, hơn Bồ-tát hay không, vì lúc đó, ngài ẩn tu. Việc cứu đời của Phật, của Bồ-tát làm, nhưng tại sao Phật không ra đời, Bồ-tát không xuất hiện, liệu mình làm được không. Nhờ ngài nhắc nhở, tôi phát hiện ra cái lý rằng cuộc đời mặc cuộc đời, mình tu hành cố gắng giữ đời sống thanh tịnh, ít nhất cũng còn giúp được một số người.

Nếu dấn thân sâu vào đời, không trở lại được, chẳng những không giúp được cuộc đời mà còn hại cho bản thân mình. Thật vậy, trên bước đường tu, một số bạn tôi đã bị chết chóc, bị tù đày, hay phải hoàn tục, chỉ vì dấn thân vào đời một cách liều lĩnh.

Hòa thượng Trí Tịnh nhờ ở thiền thất dịch kinh, nên ngài đã sống thọ và lãnh đạo Giáo hội suốt hơn 30 năm, đó là điều quý báu đáng cho chúng ta học theo. Thiết nghĩ nếu trong thời kỳ trước, Hòa thượng dấn thân thì từ năm 1980 trở về sau, chúng ta sẽ không có người lãnh đạo tài đức. Nhờ ngài ẩn tu để sau này lãnh đạo con thuyền đạo pháp vượt qua bao nhiêu khó khăn.

Quý thầy nỗ lực tu tập giữ tâm bình an, thì làm được việc. Ngài Vạn Hạnh cũng như vua Lý Thánh Tông và một số các bậc cao tăng thành tựu đạo nghiệp cũng là nhờ tâm bình an. Ngày nay, Giáo hội mạnh, Tăng Ni đông, chùa nhiều, việc tu hành có nhiều điều thuận lợi hơn, nhưng nếu đa số chúng ta không vào định được, thì coi chừng thời đại hưng thạnh của Phật giáo sẽ sớm chấm dứt. Vì chư Tăng tu được, trở thành biểu tượng cho quần chúng nương nhờ, nhưng nếu chư Tăng không tu được, không đắc định, không đắc đạo sẽ làm quần chúng mất niềm tin, Phật giáo phải suy đồi. Như vậy, đòi hỏi chúng ta phải đắc định.

Trưởng lão Hòa thượng niêm hương trước Phật đài - Ảnh: Bảo Toàn

Trưởng lão Hòa thượng niêm hương trước Phật đài - Ảnh: Bảo Toàn

Định Pháp hoa mà Đức Phật nhập thì có hai loại hoa trời xuất hiện. Trời tiêu biểu cho phước báu, cho sự an lạc. Cho nên, chư Thiên không biết buồn giận lo sợ và cũng không có gì để họ buồn giận lo sợ. Ta thực tập sao để tâm đứng yên, không buồn giận lo sợ, gọi là Mạn-đà-la là ý lạc hoa, tức tâm được an lạc. Và tiếp theo là Mạn-thù-sa cũng là hoa trời tiêu biểu cho tâm trong sáng gọi là huệ, thì bấy giờ ta thấy rõ được bề mặt và bề trái của cuộc đời, thấy rõ cả ba đời nhân quả. Kinh Pháp hoa diễn tả ý này là pháp nhĩ Như thị, cuộc đời như thế, khác không được. Phật không làm thay cho chúng ta được.

Phật là người chỉ đường, chúng ta phải tự phấn đấu đi lên. Mỗi người có một nghiệp riêng, Phật cũng không cứu được nghiệp quả, gọi là tam bất năng của Phật. Phật chỉ chuyển được nghiệp nhân thôi. Nghiệp quả đã chín thì phải chấp nhận, không có cách nào khác. Mọi người phải khổ trên cuộc đời này là đang gánh chịu nghiệp quả, chẳng hạn như làm ăn thua lỗ, con cái hư hỏng, bị phá sản, nói chung tất cả mọi sự bất hạnh của con người là những cái nhân quá khứ mà họ đã làm để ngày nay chuốc lấy nghiệp quả.

Chúng ta chỉ giúp được họ bằng cách khuyên họ chấp nhận nghiệp quả, nhưng có thể tạo nhân mới là đem tâm họ gắn vô ao thất bảo của Phật A Di Đà, gắn tâm vô niệm Phật, gắn tâm vô hoa sen, không gắn tâm vô xí nghiệp phá sản nữa, sẽ được bình an. Như vậy, từ quả bất an mà tạo nhân bình an theo phương cách đó, thậm chí phải bỏ thân chăng nữa, nhưng phải giữ tâm bình an cho kiếp sau.

Hòa thượng Trí Tịnh khuyên, tôi nhận ra đối với cuộc đời, đối với xã hội, tôi coi nhẹ, vì đó là nghiệp quả không cứu được; cho nên tôi chỉ gieo hạt giống Bồ-đề là gieo vào tâm chúng sanh cái an để họ an. Ý này được kinh Hoa nghiêm dạy rằng quả Bồ-đề thuộc về chúng sanh, vì không có chúng sanh thì Bồ-tát không thể thành Vô thượng Đẳng giác, nhưng chúng sanh mà không có nghiệp, không có phiền não thì Bồ-tát không hành đạo được.

Thật vậy, Bồ-tát Quan Âm phải từ Tây phương qua Ta-bà hành đạo, vì ở đây chúng sanh có nghiệp, phiền não, khổ đau, Ngài mới hiện thân cứu độ. Chư Thiên an lạc, nên không nghe pháp, không tu, nhưng khi họ hết phước là trong chớp mắt bị đọa.

Ở Ta-bà có người khổ đau, ta mới phát được tâm thương người. Đức Phật cũng nói Ngài phát tâm từ địa ngục A-tỳ. Thực tế chúng ta thấy người sung sướng, may mắn không đến chùa. Người không may mắn, mạt vận mới đi chùa, phát tâm, nhờ gặp bậc chân tu khuyên họ giữ tâm yên ổn mới lóe ra hướng để giải quyết việc bế tắc một cách nhẹ nhàng.

Theo kinh nghiệm riêng tôi, gặp việc khó, tôi không giải quyết được thì tôi khóa việc lại, không làm, chờ có tia sáng lóe lên, nghĩa là có chư Thiên mách bảo, vì tâm chúng ta thanh tịnh ngang qua chư Thiên, họ mới mách bảo. Hai là được Phật hộ niệm, tức Phật huệ soi rọi lòng ta khiến tâm trí chúng ta sáng lên. Ba là do tâm chúng ta bình an, thì trí tự sáng.

Như vậy, tâm bình an mới có chư Thiên báo mộng, mới có Phật hộ niệm và có huệ sanh ra. Nếu chưa được như vậy thì đừng làm càn, làm ẩu. Đối với nghiệp quả của chúng sanh, Phật và Bồ-tát còn không cứu được, mình dấn thân vô là chết, luôn luôn phải giữ mạng sống để tu hành. Ngài Huệ Tư dạy hành giả Pháp hoa thệ nguyện an lạc, nghĩa là hẹn lại dịp khác có đủ điều kiện để làm được mới làm.

Tôi mong tất cả pháp lữ nếu chưa vào định được, chúng ta cũng gữ tâm bình an, tỉnh táo, sáng suốt để giải quyết từng việc một cách đúng đắn.

Đón chào xuân Tân Sửu năm 2021, chúng tôi xin kính chúc chư tôn đức Tăng Ni trong nước và nước ngoài luôn an lạc trong ánh hào quang của chư Phật.

Với chư tôn đức giáo phẩm của Phật giáo TP.HCM, chúng tôi xin kính chúc quý vị dồi dào sức khỏe, tâm bình an, trí sáng suốt để phát huy khả năng của mình và đóng góp nhiều thành quả lợi lạc cho đạo, tốt đẹp cho nhân sinh.

Với quý Phật tử trong nước và nước ngoài, quý cộng tác viên, phát hành viên, cùng bạn đọc xa gần, xin gởi lời chúc sức khỏe, thành đạt và hạnh phúc.

Hòa thượng Thích Trí Quảng/Báo Giác Ngộ Xuân Tân Sửu

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Thông tin hàng ngày