Trước khi có Quyết định số 52/QĐ/BTS tại văn phòng BTS PG tỉnh Lâm Đồng có hàng chục lá đơn của Phật tử địa phương gởi cho BTS và các cấp chính quyền phản ánh tình hình sinh hoạt tại chùa Giác Hải nhất là việc thầy Trí Khải chứa chấp cô Nguyễn Thị Kim Xuyến trong chùa, ăn ở như một gia đình thế tục (đơn ngày 30-6-2006 ). Thầy Trí Khải lại còn giao chìa khóa hòm công đức của chùa cho cô Xuyến quản lý (cô Xuyến đã có tiền án tham ô công quỹ tại Phòng Giáo dục huyện Đơn Dương, đã bị tòa án địa phương xử lý). Cô Xuyến còn có nhiều hành động ngang ngược như cãi vã, đánh nhau nhiều lần với Phật tử trong chùa: Điển hình như vụ cô Nga, cô Vi, anh Nguyên, anh Phương, cháu Gấm v.v… Ngày 29-4-Bính Tuất, trong lễ tổng kết Phật đản tại địa phương anh Dương (thủ quỹ huyện hội) đã thẳng thắn chỉ trích, phê bình cô Xuyến. Ngay sau đó, cô Xuyến đã dùng hung khí gây sự với chị Tư (vợ anh Dương) tại chùa (đơn thư ngày 20-1-2007). Ông Trương Kế Chi, Hội trưởng Người cao tuổi thôn Thạnh Nghĩa cùng ông Nguyễn Hữu Hạnh đến chùa gặp thầy Trí Khải để bàn việc đón nhận “Bằng Di tích lịch sử đình làng Thạnh Nghĩa” (địa bàn chùa) nhưng cả ba lần thầy đều tránh mặt và ở trong phòng vi tính với cô Xuyến (lúc này chùa không có ai). Việc thầy Trí Khải sau giờ Tịnh độ thường xuyên đánh bài công khai với đám thanh niên tại phòng khách cũng đã được Phật tử lên án một cách gay gắt. Các điệu trong chùa nhiều lần bị thầy đánh đập một cách dã man, bắt nhịn đói, nhốt vào nhà củi không mùng mền chăn chiếu, lạnh lẽo suốt cả đêm (chú Đạo bị đánh 50 roi rướm máu không ngồi được, chú Định thì phải chui vào ống cống sau chùa trốn cả đêm), sau đó bị thầy đốt hết quần áo sách vở… Hiện tại các điệu trong chùa đã bỏ đi hết, chỉ còn cô Xuyến và thầy Trí Khải mà thôi… Điều nghiêm trọng là trong một hội nghị tại huyện nhà để suy cử các thành viên đi tham dự Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Lâm Đồng, sau Hội nghị Hòa thượng Chánh đại diện có tuyên bố là chuyển văn phòng Ban Đại diện Phật giáo huyện về chùa Giác Hải, liền sau đó thầy Trí Khải đã đứng lên tuyên bố: “Thầy không có quyền gì đối với tôi và tôi hiện nay là Phó ban Đại diện của một Giáo hội khác”. Về việc này theo tư liệu mà chúng tôi có được, ngay sau đó thầy Trí Khải đã có đơn tường trình: “Do bức xúc nên tôi nói vậy và cam kết sẽ không theo ai cả, chỉ lo yên tu mà thôi…”.
Trước tình hình này, Ban Trị sự đã chỉ đạo cho hai vị Phó ban đến chùa Giác Hải thăm hỏi sức khỏe và tìm hiểu sự việc, sau đó gởi giấy (2 lần) mời thầy về văn phòng để lắng nghe cụ thể mọi vấn đề, nhưng cả hai lần thầy đều vắng mặt mà chỉ gởi đơn trình báo với nội dung: “Đã tham gia vào một tổ chức Phật giáo khác rồi?”.
Đến lúc này thì việc Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng ra quyết định bãi nhiệm chức trụ trì của thầy Trí Khải và giao chùa Giác Hải cho Ban Đại diện Phật giáo huyện Đơn Đương tiếp nhận để ổn định Phật sự tại địa phương là một quyết định hoàn toàn đúng.
Cần có những thông tin khách quan và trung thực.
Tìm lại hồ sơ lưu trữ tại văn phòng Ban Trị sự, chúng tôi đã có trong tay Quyết định số 49/QĐ/BTS do cố HT.Thích Từ Mãn, Trưởng BTS PG tỉnh Lâm Đồng ký ngày 3-10-1992 về việc bổ nhiệm ĐĐ.Thích Trí Khải nhận chức trụ trì chùa Giác Hải, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương. Đây là một trong những cơ sở trực thuộc Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng quản lý. Nhiều bô lão địa phương kể về sự hình thành và phát triển của chùa Giác Hải huyện nhà: “Năm 1940, cụ Nguyễn Tiếp - một Phật tử thuần thành tại làng Thạnh Hòa, quận Dran-Fyan, tỉnh Đồng Nai Thượng (Đơn Đương, Lâm Đồng) đã hiến cúng một ngôi nhà nhỏ của cụ để dân làng tu bổ thành ngôi Tam bảo lấy tên hiệu là chùa Giác Hải… Do tín đồ Phật tử ngày càng đông, năm 1945 hai vị bô lão trong làng là cụ Tổng Ban và cụ Mai Để, đề xướng tìm một khu đất mới để di dời chùa… Một thời gian sau, hai cụ Nguyễn Hoạt và Phạm Hoang tiếp tục khai phá khu đất mới (tại ấp Thạnh Nghĩa, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương) để di dời chùa lần thứ ba và tiến hành trùng tu xây dựng chùa. Năm 1963, chùa được đón ĐĐ.Thích Huệ Trí đến ở và đến năm 1966 Đại đức ra đi. Từ năm 1966 đến năm 1969, chùa không có sư trụ trì, Ban hộ tự và dân làng thay nhau chăm sóc chùa. Năm 1969, thầy Phước An được mời về trông coi chùa đến năm 1976 do tuổi già sức yếu thầy trở về quê và một lần nữa chùa Giác Hải lại vắng bóng Tăng già suốt 14 năm. Thời gian này với lòng ái kính ngôi Tam bảo, các vị bô lão trong làng, Ban hộ tự, Ban nghi lễ và Phật tử quyết tâm duy trì ngôi chùa mà mình đã dày công vun đắp. Đến năm 1990, trước tình trạng chùa Giác Hải xuống cấp trầm trọng, Phật tử địa phương đã cung thỉnh HT.Thích Pháp Chiếu chủ xướng việc đại trùng tu chùa. Năm 1991, HT đã đưa ĐĐ.Thích Trí Khải về chăm lo Phật sự tại chùa Giác Hải và Đại đức đã được bổ nhiệm trụ trì vào năm 1992, cũng trong thời gian này thầy Trí Khải được HT.Thích Pháp Chiếu tiến cử giữ chức vụ Phó ban Đại diện Phật giáo huyện Đơn Đương qua hai nhiệm kỳ (từ năm 1992 đến năm 2002).
Theo chúng tôi, chùa Giác Hải là cơ sở của Giáo hội do Phật tử địa phương xây dựng, Giáo hội có quyết định bổ nhiệm thì cũng có quyền bãi nhiệm nhất là khi có dư luận làm ảnh hưởng đến uy tín của Giáo hội và bất cứ vị trụ trì nào cũng vậy, dù bỏ công lao nhiều hay ít để xây dựng ngôi Tam bảo đó là bổn phận của người xuất gia “Phụng sự đạo pháp, Hoằng hóa độ sinh” không thể kể công lao của mình để mưu đồ “Cải tự vi gia” trái với hạnh nguyện của tu hành. Còn đối với thầy Trí Khải chúng tôi mong rằng thầy nên xem lại mình, bởi nếu không có chuyện vỡ lỡ kiện tụng của thầy và cô Xuyến. Liệu thầy có bỏ Giáo hội để theo một tổ chức khác không?!
