Thiền sư Vạn Hạnh - Người mở đầu chặng đường ngàn năm

Bài đăng trên giai phẩm Giác Ngộ Xuân Bính Ngọ - 2026 - Thiết kế: Phòng Mỹ thuật BGN/Tống Viết Diễn
Bài đăng trên giai phẩm Giác Ngộ Xuân Bính Ngọ - 2026 - Thiết kế: Phòng Mỹ thuật BGN/Tống Viết Diễn
0:00 / 0:00
0:00
GNO - Sư nối truyền dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thuộc thế hệ thứ 12. Sử liệu viết về ngài rất hiếm, phần nhiều căn cứ vào quyển Đại Nam Thiền uyển đăng lục, là tác phẩm đầu thời nhà Trần, được Trường Viễn Đông Bác Cổ kiểm chứng là chính xác.

Ngài họ Nguyễn, tên thật và năm sanh chưa thấy tài liệu nào ghi nhận. Ngài viên tịch vào năm 1018. Về sau, khi tham khảo sách Thi văn Lý - Trần của NXB Khoa Học Xã Hội Hà Nội có ghi tên thật của ngài là Nguyễn Văn Hạnh, người ở châu Cổ Pháp, làng Dịch Bảng thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Ngài sinh trưởng trong một gia đình thuần túy Phật giáo. Thuở nhỏ ngài có tư chất đĩnh đạc thông minh xuất chúng, học thông Tam tạng, nghiên cứu tinh tường nghĩa thú của Bách luận, là căn bản của Phật giáo Đại thừa do Bồ-tát Long Thọ trước tác. Ngài cũng nghiên cứu làu thông Tam giáo. Tuy tài đức cao rộng nhưng xem thường phú quý vinh hoa. Năm 21 tuổi, ngài theo Thiền sư Định Huệ xuất gia và thọ học với Thiền Ông Đạo Giả ở chùa Lục Tổ, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khi Thiền Ông viên tịch, Sư tiếp quản nhiệm vụ trụ trì và chuyên thiền tập pháp “Tổng trì tam-ma-địa”, lấy đó làm sự nghiệp đời tu. Bấy giờ ngài phán ra điều gì dân chúng đều cho là sấm ký. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính ngài.

Ngài làu thông Tam giáo đến mức tường tận và dung hòa cả ba tư tưởng ấy. Muốn truy tìm và giải quyết những nguyên lý phức tạp mâu thuẫn này, ngài phải bước qua ngưỡng cửa nghiên cứu và thực nghiệm đến Bách luận của Bồ-tát Long Thọ, dùng đến biện chứng trực giác về hiện tượng và phủ định sự có mặt giả hợp của danh sắc, khám phá thực tại tối hậu không bị lệ thuộc bởi những chi phối giả hợp của thời - không.

Theo Thiền uyển tập anh ghi lại cuộc đời ngài, ta thấy ngài chuyên tu tập pháp “Tổng trì tam-ma-địa” chứ không phải là cốt lõi thực chứng. Truy tìm lại Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ta thấy có bóng dáng Mật tông ở đó, mà ngài thuộc thế hệ thứ 12 của thiền phái này. Tam-ma-địa theo Trí độ luận còn gọi là Tam-muội. Đây có thể là diệu dụng nào đó của việc đạt được thực ngộ thiền, chứ không hẳn Tam-ma-địa là thực thể có từ bên ngoài. Như vậy hẳn nhiên ngài chứng ngộ là nhờ khai quật nội tâm bằng phương pháp thiền định qua cửa ngõ và phương pháp hành trì của Tam-ma-địa. Và thành tựu nổi bật mà ngài thực hiện là xoay chuyển vận nước và dân tộc bước vào thời huy hoàng, và tạo dựng nền triết lý cho giống nòi.

Thiền sư và quan điểm chính sự

Ngoài việc thực chứng thực ngộ của chính bản thân, ngài còn là một nhân vật mang ánh sáng giác ngộ đi vào cuộc đời để giúp dân xây dựng một nước Việt huy hoàng rực rỡ. Sự thông tuệ của ngài chính là việc giáo dục và khả năng tiên đoán được vận mệnh. Ngay từ khi được sự tôn kính của vua Lê Đại Hành, ngài đã tỏ ra rất xuất sắc trong việc tiên đoán sự thắng bại của quân ta. Năm Thiên Phúc thứ nhất (980), tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang đánh nước ta, đóng binh ở Cương Giáp, Lãng Sơn. Vua Lê Đại Hành mời Sư đến hỏi:

- Quân ta thắng bại thế nào?

Sư đáp:

- Trong ba, bảy ngày thì giặc ắt lui.

Sau đó quả đúng như lời tiên đoán.

Khả năng của Thiền sư còn sử dụng tuyệt diệu hơn trong việc đào tạo nên một vị minh quân, một vĩ nhân của dân tộc. Ngài đã đào tạo Lý Công Uẩn ngay từ lúc còn làm chú tiểu ở chùa làng Cổ Pháp, để sau này trở thành một vị vua anh minh làm tròn sứ mạng cao cả cho dân tộc. Nhờ sự giáo dục uốn nắn tài tình của ngài, Lý Công Uẩn đã thâm nhập tinh thần từ bi trí tuệ trong đạo Phật, đặt sự tồn vong của dân tộc lên trên, xây dựng một xã hội nhân bản thịnh vượng. Sử gia Hoàng Xuân Hãn viết: “Triều đại nhà Lý là triều đại thuần từ nhất trong lịch sử nước ta, đó là nhờ ảnh hưởng của Phật giáo”.

Ngài đi vào cuộc đời, tham dự vào chính sự trong cương vị xuất thế của mình, nhưng lại không muốn hòa mình trong ràng buộc của lợi danh, quả là “Vô hành nhi hành, vô ngôn nhi ngôn”. Về sau Vua Lý Nhân Tông làm bài kệ truy tán Sư rằng:

Vạn Hạnh dung tam tế

Chơn phù cổ sấm ky

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ.

Tạm dịch:

Vạn Hạnh thông ba cõi

Thấu hiểu lời sấm xưa

Quê hương làng Cổ Pháp

Chống gậy vững kinh kỳ.

Chặng đường ngàn năm

Ngàn năm đối với đời người là một thời gian quá dài, nhưng so với thời gian vô tận thì chỉ là một chặng đường ngắn ngủi. Trên chặng đường ngàn năm ngắn ngủi của lịch sử đạo Phật Việt Nam có nhiều bước chuyển mình, lúc thịnh lúc suy, khi ẩn khi hiện. Nhưng lúc nào truyền thống dân tộc biết hòa quyện theo dòng chảy thênh thang của Phật giáo, thì lúc ấy đất nước được thái bình thịnh trị, mạch sống dân tộc được thăng hoa. Lịch sử đã chứng minh những vị minh quân của hai triều đại Lý - Trần cùng các quần thần rường cột, nhờ đưa những tinh túy của đạo Phật thấm nhuần vào mạch nguồn dân tộc, thì đất nước phát triển về nhiều phương diện: văn học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, điêu khắc…

Đạo Phật Việt Nam hình thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử triều Trần. Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông đã tổng hợp những tinh hoa của ba dòng thiền: Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường thành Thiền tông Trúc Lâm Yên Tử đặc thù của Việt Nam, do Ngài làm Sơ tổ. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử lấy tôn chỉ “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Hiểu rõ chính mình là việc bổn phận, không tìm cầu bên ngoài) và chủ trương “Phật tại tâm” làm cốt lõi của việc tu hành, tạo nên sự minh triết đặc thù Phật giáo Việt Nam.

Cho đến cuối thế kỷ trước, khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử bắt đầu được khôi phục và xương minh. Các thiền viện mang tên Trúc Lâm lần lượt hình thành trên khắp đất nước và cả ở hải ngoại, mà người có công phục hưng là Trưởng lão Hòa thượng Thiền sư thượng Thanh hạ Từ. Thiền phái Trúc Lâm góp mặt cùng các tông phái trong tinh thần hòa hợp xây dựng ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, như những đóa kỳ hoa cùng tô điểm cho vườn hoa Phật giáo.

Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, và đón mừng mùa xuân năm Bính Ngọ - 2026 lại về, cầu chúc tất cả chúng ta đều được sống trong hào quang của chư Phật, đất nước Việt Nam luôn được hòa bình thịnh vượng, người người ấm no, nhà nhà hạnh phúc, cuộc sống chan hòa, đạo đời yên ổn. Mong lắm thay!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Phật tử tham dự khóa tụng kinh Dược Sư cầu an đầu năm - Ảnh: Quảng Đạo

Tụng kinh cầu an đầu năm, nên tụng kinh nào?

GNO - Tôi muốn tụng kinh cầu an đầu năm tại tư gia để cầu nguyện gia đạo an lành. Tuy nhiên vì không có nhiều thời gian cũng như không rành rẽ các pháp thức kinh kệ nên tôi chỉ muốn tụng đọc bình thường những bản kinh ngắn, dễ hiểu, dễ thực hành. Mong được quý Báo hướng dẫn.

Thông tin hàng ngày