Thật ra vấn đề tự học không có gì mới lạ. Ở trường thầy cô giáo nào mà chẳng quan tâm nhắc nhở; báo chí từng đăng tải những lời khuyên quý báu của các nhà giáo dục, tiến sĩ, giáo sư… đã thành công rực rỡ, sáng danh nhờ tự học. Tôi từng phân vân tự hỏi: Ngoài cái giá trị thực dụng của nó là mang lại sự đỗ đạt, thành công và danh vọng, sự tự học còn có ý nghĩa gì khác, không gắn liền với lợi và danh?
Trước hết, như chúng ta đều biết “Con người là sinh vật thông minh nhất trên hành tinh này”. Khoa học xếp con người đứng đầu loài linh trưởng, tức loài động vật có trí khôn. Trên 2.000 năm trước, sách Thượng thư của Trung Quốc ghi: “Người là giống tinh khôn nhất trong muôn vật”. Đức Thế Tôn từng dạy rằng “Có được thân người là khó”.
Một đặc tính nổi bật nơi con người là biết bắt chước hay học theo. Có thể nói “Tự học là thuộc tính của trí tuệ gắn liền với bản năng sinh tồn”, mà ngay trong giới động vật cấp thấp cũng thấy biểu hiện khả năng này:
- Con chim mẹ làm tổ trên cao, đến khi chim con đủ lông cánh, chim mẹ tập cho chúng bay, nếu chim con không tự học theo cách vỗ cánh của chim mẹ thì làm sao biết bay, mẹ chúng đâu có cưỡng chế giáo dục như con người. Mẹ chúng chỉ dùng thân giáo, và tuyệt nhiên không áp đặt bằng kỷ luật. Trường hợp sớm mất cha mẹ, mà nếu chưa chết vì đói khát, chim con cũng tự lực hành động theo bản năng, hoặc học theo bầy đàn để sinh tồn. Khi viết đến đây, tôi bỗng nhớ lại một bức tranh vui, đối với tôi có ý vị của một chuyện ngụ ngôn hay một lời dụ.
Tranh vẽ một đàn chim con tập bay theo mẹ từ cái tổ trên cây cao. Có một chú chim con run rẩy không dám bay, nhưng tình thế buộc nó phải đáp xuống bên kia, nó bèn tuột xuống thân cây, rốt cuộc nó cũng “đáo bỉ địa”, sang bên kia theo đàn một cách an toàn. Tôi thú vị liên tưởng: Học theo là tốt nhưng không tự biết mình, không tự lượng sức là nguy.
Còn nơi con người?
- Trẻ con hay bắt chước người lớn, dù có khi bị cấm.
- Có những em bé nghèo khổ, mồ côi sống lang thang nếu chúng không tự lực tự cường, không tự tìm cách học hỏi thì làm sao sống nổi.
Triết gia Hy Lạp thời cổ đại Aristotle cho rằng “Bản tính con người vốn hiếu tri”. Triết gia Anh thời cận đại Francis Bacon nói “Tri thức tự nó là sức mạnh”.
Từ ngàn xưa, “tổ chức học” tức tổ chức giáo dục đã trở thành định chế xã hội. Ngày nay, nước nào cũng đầu tư rất nhiều cho giáo dục; gia đình nào cũng tiêu hao tiền của cho sự học của con em. Trong bối cảnh như vậy, sự học buộc phải có giá trị thực dụng mang tính xã hội. Và sự tự học tất nhiên phải gắn liền với giá trị thực dụng đó.
Có thể đặt câu hỏi cho Tăng Ni sinh của chúng ta: Giả sử quý vị không đến trường để nâng cao tri thức, và có thể “tiến thân” bằng con đường học hành, thi cử, chẳng hạn sẽ đỗ vào học viện Phật giáo, đi du học, đỗ tiến sĩ, làm giảng sư v.v…, thì liệu ở chùa, ở trú xứ quý vị có thể tự học, tự tìm phương cách nâng cao trình độ, hoặc để khắc phục những khiếm khuyết nào đó của bản thân? Và sư phụ của quý vị có tạo điều kiện, hướng dẫn quý vị tự học, nếu việc đó không gắn liền với nhiệm vụ ở trường lớp, gắn liền với thi cử?
Trong thế giới mà kinh tế không tương xứng với sự gia tăng dân số và sự hưởng thụ xa hoa của một bộ phận giàu có, quyền thế tham lam, thì sự học chủ yếu vẫn là nhằm trang bị cho mỗi cá nhân cái năng lực tranh sống và cầu danh; nói như người xưa “tranh danh đoạt lợi”. Tình người ngày càng mờ nhạt, đạo đức ngày càng suy vi! Tôi đã rất xúc động và chua xót khi đọc mấy dòng sau đây: “Trong cái xã hội hiện nay chúng ta buộc phải sống, xã hội xây dựng trên sự đối kháng giai cấp và sự thống trị giai cấp, khả năng có được những tình cảm thuần túy con người trong quan hệ của chúng ta đối với đồng loại vốn đã không còn được bao nhiêu nữa rồi, vậy chúng ta không có chút lý do nào để làm cho khả năng đó càng giảm bớt đi hơn nữa, bằng cách nâng những tình cảm ấy lên địa vị của một tôn giáo”, đó là lời của Ăng-ghen (1).
Thử nghĩ, làm sao “có được những tình cảm thuần túy con người trong mối quan hệ với đồng loại” khi mà hố ngăn cách giữa giàu và nghèo ngày càng sâu rộng; và cái tâm lý ham danh, ham lợi, ham quyền lực, ham hưởng thụ là phổ cập. Người xưa từng nói: “Hai người cùng lo một việc thường thương yêu nhau, hai người cùng ham thích một việc thường ganh ghét nhau”.
Xét cho cùng, chỉ có người xuất gia tu hành chân chính, và những ai thật sự trọng nghĩa khinh tài mới mong giữ được tình người. Nhưng biết thế nào là tình người thuần túy chẳng phải dễ, phải học, phải quán, và bản thân phải tự chứng nghiệm.
Đâu phải chỉ tìm hiểu, quan sát đối tượng bên ngoài, như học toán, học sinh ngữ, học giáo lý v.v… mới gọi là học. Trong đạo Phật có từ ngữ “tự quán chiếu”, Nho giáo có câu “Mỗi ngày tôi tự phản tỉnh ba điều về mình”, Triết gia Socrates khuyên“Hãy tự biết mình”, trong Tâm lý học cổ điển, phương pháp nghiên cứu ý thức quan trọng nhất là phương pháp“nội quan - introspection”.
Có một sự kiện đáng làm cho ta suy gẫm: Trong Đại hội Tôn giáo hoàn cầu tổ chức tại Chicago - Mỹ, năm 1993, người ta có trình chiếu cuốn phim “Lời cảnh báo của bậc Huynh trưởng - Elder Brother’s Warning”, do Đài BBC thực hiện, nói về đời sống của thổ dân Kogi, một bộ lạc thiểu số tại Nam Mỹ, sống rất hạnh phúc, nhưng cách ly với thế giới văn minh vật chất của hành tinh này.
Sau đây là đoạn trích bài thuyết trình của ký giả Alan Ereira: “Cách giáo dục thanh niên tại đây cũng hết sức lạ lùng, có một không hai. Khi được khoảng 20 tuổi, thanh niên được gởi đến học hỏi với các bậc trưởng lão trong những túp lều đơn sơ hay một hang đá. Tại đây, họ sẽ được tập ngồi yên, quay mặt vào vách tường trong bảy đến chín năm liền. Họ chỉ nhai một ít lá cây, uống một chút nước và chú tâm suy gẫm về những điều được giảng dạy. Mỗi ngày vào giờ giấc nhất định, các bậc trưởng lão có nhiệm vụ hướng dẫn sẽ bước vào trao cho họ một đề tài chi đó để suy gẫm”, tôi cho rằng đó là sự tự học chân chính nhất.
Sự tự học gắn liền với bản chất của con người, do vậy mà nó mang tính nhân bản sâu sắc. Sống ở đời, nếu không có ai dạy cho, con người cũng phải tự học mới có thể ứng xử tình huống một cách thích đáng.
Xét theo quan điểm Tâm lý học và Đạo đức học tôi nhận thấy rằng:
- Người thích tự học thường có lối sống theo lý tính hơn là sống theo cảm tính vốn thường gắn liền với các bản năng; họ nhận ra được cái giá trị của đời sống tinh thần, và mặc nhiên khẳng định sự hiện hữu độc đáo của mình. Nhà triết học kiêm toán học Pháp Descartes nói: “Tôi hoài nghi nghĩa là tôi tư duy; tôi tư duy nghĩa là tôi hiện hữu”. Ta cũng có thể phát biểu na ná: Tôi tự học nghĩa là tôi tư duy; tôi tư duy nghĩa là tôi hiện hữu.
- Người tự học thường có niềm vui trí tuệ nội tại; như Khổng Tử nhận định: “Người trí thì vui, người nhân từ thì sống lâu, (sống lâu có lẽ nhờ không bị stress)”. Đây là niềm vui lẫn tự hào vì dù muốn dù không nó cũng mang ý nghĩa “vô sư trí” thế gian.
- Ai có khả năng tự học thường tự tin, tri túc và tự trọng. Thi hào Pháp thế kỷ XIX, Alfred de Musset nói một câu đầy ý vị: “Cái ly của tôi không lớn, nhưng tôi uống bằng cái ly của tôi”.
- Người tự học vì nhu cầu trí tuệ biết tự đánh giá mình nên tự chủ, dễ nhận ra rằng “Càng học càng thấy mình dốt” cho nên thường khiêm tốn.
Socrates, triết gia thời cổ đại, được phương Tây kính trọng như người Á Đông kính trọng Khổng Tử. Học giả Trung Hoa Lương Khải Siêu kể rằng, tại Nhật Bản, trong đền thờ các bậc Thánh triết của nhân loại, người ta thờ trên hết là Phật Thích Ca, kế đến là Khổng Tử, kế nữa là Socrates, người đã nói câu nói bất hủ: “Tất cả những gì tôi biết, ấy là tôi không biết gì”. Về câu danh ngôn này, hồi còn là học sinh – sinh viên, tôi từng phân vân và cho rằng Socrates quá khiêm tốn, bậc như ông mà nói “không biết gì hết”, thật là khó hiểu; thiếu thành thực chăng hay là như người đời nói “Quá khiêm tốn cũng là một cách tự cao”?.
tha thì sợ nó thù oán”, hoặc để được khen là rộng lượng.
Trên thế gian này, có tôn giáo nào? chủ thuyết nào? dạy cho loài người những lời đại trí đại bi, như đức Thế Tôn đã dạy chúng ta:
"Đừng tin điều gì chỉ vì nghe người ta nói như thế.
Đừng tin vào các truyền thống
chỉ vì chúng đã được lưu truyền qua nhiều đời.
Đừng tin điều gì
chỉ vì đó là dư luận trong quần chúng.
Đừng tin điều gì
chỉ vì thấy nó được ghi chép trong kinh điển của tôn giáo mình.
Đừng tin điều gì chỉ vì căn cứ vào uy tín của các bậc thầy hay tiền bối của mình.
Nhưng sau khi quán sát và phân tích,thấy điều gì phù hợp với lý trí
và đưa đến sự tốt lành,đem lại lợi ích cho cá nhân và cho tất cả;
hãy chấp nhận điều đó và thực hành theo nó”
(Kinh Tăng Nhất A Hàm)
Kính lạy Đấng Đại từ Đại bi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ngài đã dạy chúng con “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Ngài đã chỉ cho chúng con biết hai thứ quý báu nhất trên đời là TRÍ TUỆ và TỰ DO. Kính bạch Ngài, có những cộng đồng nhân loại đang sống tủi nhục vì mất tự do, hay sống trong cái tự do trên giấy tờ chữ nghĩa; đang quằn quại trong cảnh thịt rơi máu đổ vì các tà thuyết vô minh. Xin nguyện tinh tấn tu học, nỗ lực tự tu, tự học, tự giác, ngõ hầu có thể giúp tha nhân cùng giác ngộ.
