Đương Đạo và đường vào đạo

Bộ 4 tác phẩm mới nhất của tác giả Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng
Bộ 4 tác phẩm mới nhất của tác giả Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng
0:00 / 0:00
0:00
GNO - Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng là một tên tuổi khá quen thuộc đối với nhiều độc giả Phật giáo. Suốt nhiều năm, trên Văn Hóa Phật Giáo, Giác Ngộ, .. hay những trang thông tin online, Thầy đã đăng tải rất nhiều bài viết về Phật học có giá trị, với văn phong giản dị, gần gũi với cuộc đời.

Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng là bút danh và thế danh của thầy Thích Minh Diệu, một vị tu sĩ Phật giáo. Đọc qua các tác phẩm ký bút danh nói trên, từng có rất nhiều người lầm tưởng thầy là một người thế tục chứ không phải tu sĩ. Các tác phẩm của thầy, đa phần là sự hòa quyện giữa đạo và đời, nói về đạo dưới con mắt của đời và nhìn cuộc đời qua lăng kính của đạo. Trong những cuộc trò chuyện với thân hữu, khi được nêu lên thắc mắc vì sao sử dụng thế danh để ký tên cho những bài viết của mình, thầy từng chia sẻ rằng đó là cách mà theo thầy, sẽ xóa nhòa đi ranh giới của người viết với người đọc, để họ tiếp cận với bài viết của thầy dưới góc độ bình đẳng, cùng chia sẻ về Phật học, chứ không phải giữa một vị tu sĩ “giảng đạo” cho một người thế tục.

Thầy Thích Minh Diệu với bút danh và thế danh Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng

Thầy Thích Minh Diệu với bút danh và thế danh Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng

Bộ 4 tác phẩm mới nhất của tác giả Đương Đạo Nguyễn Thế Đăng vừa được giới thiệu đến công chúng, với nội dung luận giảng về 4 bộ kinh quan trọng và có sức ảnh hưởng rộng rãi trong Phật giáo Đại thừa, đặc biệt là Thiền tông, bao gồm: Luận giảng kinh Viên giác, Luận giảng kinh Nhập Lăng-già, Luận giảng kinh Lăng nghiêmLuận giảng Lục tổ Pháp bảo đàn kinh.

Những bản kinh văn Đại thừa vốn có nội dung và ngôn ngữ đa tầng lớp, mỗi câu chữ đều có thể biến hiện thành muôn ngàn nghĩa lý phong phú, sai biệt tùy theo cách tiếp nhận của mỗi người. Do đó, đọc và hiểu kinh văn Đại thừa không phải là điều đơn giản, đặc biệt với người đọc phổ thông. Đó cũng là nguyên cớ ra đời cho rất nhiều tác phẩm luận giảng, diễn giải của các tác giả am tường Phật học.

4 tác phẩm cùng chung một lối trình bày ngắn gọn, hàm súc, đi thẳng vào nội dung của những bản kinh, đưa ra gợi ý hết sức cần thiết cho người đọc và học kinh.

Việc luận giảng kinh văn của thầy Nguyễn Thế Đăng không nhằm trình bày quan điểm cá nhân, đưa ra nhìn nhận mang tính chủ quan mà chỉ giải thích, diễn giảng chân thực và gọn gàng nội dung từng phẩm, từng chương kinh. Từ đó, người đọc sẽ có phương hướng để thâm nhập vào cốt lõi của kinh văn, hiểu được phần nào giáo nghĩa uyên thâm chuyển tải trong từng câu chữ.

Nói “phần nào” bởi để hiểu rõ hoặc hiểu hết nghĩa lý chuyên chở trong một câu kinh đôi khi là điều bất khả, bởi trong Phật giáo, với một hành giả, pháp học và pháp hành phải luôn đi đôi với nhau. Học kinh, đọc kinh, chúng ta có thể biết được ngôn ngữ của kinh, nắm được câu chữ trong kinh, nhưng thực sự để hiểu, chúng ta buộc phải có pháp hành, tức là có sự thực tập, thậm chí thực tập một cách chú tâm và miên mật. Từ chỗ có pháp hành, chúng ta mới làm cho giáo nghĩa của kinh văn, lời dạy của Phật trở thành một phần trong mình và trong đời sống, sự “hiểu” cũng có thể từ đó mà phát sinh một cách trọn vẹn. Cũng như một người có thể mô tả rất hay và sống động về vị mặn của nước trong biển cả, nhưng nếu chưa từng nếm qua, sẽ không bao giờ hiểu rõ, nhận ra được rõ vị mặn của nó.

Quay lại với bộ sách của thầy Nguyễn Thế Đăng, như đã nói, thầy chọn cho mình cách trình bày rất ngắn gọn và đơn giản về nội dung các bản kinh, giải thích và phân tích khái quát về từng phẩm, từng đoạn kinh chứ không đi sâu vào diễn giảng nội dung, trình bày cái nhìn mang tính chủ quan về kinh. Điều này làm phát sinh thêm một yêu cầu khác đối với người đọc, đó là đòi hỏi họ phải có nền tảng căn bản về các khái niệm, định nghĩa trong Phật pháp, để có thể “chắc” hơn trong quá trình đọc. Nhưng như vậy không có nghĩa rằng nội dung của những cuốn luận giảng này mang tính cao siêu, xa rời với người đọc mà ngược lại, trong sách, chúng ta có thể bắt gặp được những đoạn kinh văn hết sức gần gũi. Ví dụ như đoạn đối thoại giữa Lục tổ Huệ Năng và Thứ sử Vi Cừ trong cuốn Luận giảng Lục tổ Pháp bảo đàn kinh về công đức:

“Trong tâm khiêm hạ là công, ngoài hành theo lễ là đức. Tự tánh kiến lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức. Chẳng lìa tánh mình là công, ứng dụng không nhiễm là đức. Nếu tìm công đức Pháp thân, hãy y theo đây mà làm, đó là chân công đức.

*

Công đức Pháp thân thì có sẵn nơi tâm mình, nơi tánh mình. Trong tâm khiêm hạ, không có cái ta, ngoài làm theo oai nghi, giới luật, đây là công đức vì tương ưng với pháp, với tự tánh Pháp thân.

Thấy được tự tánh đang kiến lập, ứng hiện muôn pháp, cái gì cũng là tâm tánh mình, sự phân biệt vô minh bèn dứt. Tất cả đều là tâm, mà tâm thì vô tự tánh nên muôn pháp được kiến lập đều vô tự tánh, đây là tự do, an lạc hiện tiền. Khi không có vọng niệm phân biệt, liền tương ưng với tâm thể vốn vô niệm. Không lìa tự tánh tánh Không vô niệm, đây là Chân Không, mà ứng dụng ra các niệm cũng là tánh Không vô nhiễm, đây là Diệu Hữu.

Y theo đây mà làm, mà thực hành thì luôn luôn ở trong Pháp thân sẵn đủ vô lượng vô biên công đức”.

Chánh văn kinh chỉ ngắn gọn như vậy, phần luận giảng cũng chỉ đơn giản như vậy, nhưng như đã nói, để hiểu và để thâm nhập được, chắc hẳn chúng ta - những người đọc và học, cần đến nhiều thời gian cũng như chú tâm. Đường đi vào đạo chưa bao giờ là dễ, nhưng chí ít khi đã muốn đi, tìm cách đi và có hành trang cần thiết, đường sẽ mở ra với người.

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Bồ-tát Địa Tạng

Công hạnh của Đức Bồ-tát Địa Tạng

GNO - Bồ-tát Địa Tạng là vị Bồ-tát có nhân duyên sâu nặng với chúng sanh trong thế giới Ta-bà. Ngài là vị Bồ-tát được Đức Phật giao phó trọng trách làm giáo chủ cõi Ta-bà trong khoảng thời gian Đức Thế Tôn nhập diệt, Bồ-tát Di Lặc chưa thành Phật.
Ảnh: PAQ

Tiếng chuông thù ân trong sương sớm Thiền Tôn

GNO - Khi những làn sương còn bảng lảng phủ quanh núi Thiên Thai, Hòa thượng trụ trì Thích Thanh Đàm cùng chư tôn đức Tăng bổn tự đã trang nghiêm cử hành lễ chúc tán và lạy thù ân tại tổ đình Thiền Tôn - ngôi cổ tự linh thiêng của dòng thiền Liễu Quán trên đất Huế.

Thông tin hàng ngày