GNO - Có một điều, tôi luôn nhớ một cành lan đầu tiên, một cái Tết lần đầu có điểm tô. Hồi xưa, không có hoa cỏ gì nhiều. Cỏ thì nhiều, hoa rất hiếm. Ngày Tết kiếm được vài cành đào rừng, ra tận nhà bác Hai xin về, cắm trong lu nước bên hông nhà, đã thấy vui như Tết.
Một năm có mấy ngày Tết. Ngày đón chào năm mới khiến mọi người nô nức rộn ràng. Cái rộn ràng dễ thương của mùa Tết năm cũ, thế kỷ XIX, một nhà thơ Nho gia lên tiếng:
Khéo bảo nhau rằng mới với me
Bảo nhau rằng cũ chẳng ai nghe
Khăn là bác nọ to tày rế
Váy lĩnh cô kia quét sạch hè.
Dân gian hồn nhiên chưng dọn, váy áo phết đất thướt tha cho bõ công những khi tay lấm chân bùn. Cụ Tú Xương cũng vẽ lại hình ảnh một mùa xuân thôn dã:
Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om thòm trên vách bức tranh gà
Chí cha chí chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là.
Đọc lại những bản văn học thời xưa cũ, để sống trọn vẹn tâm tình dân tộc.
Trong triều, ngoài nội đều có cách mừng xuân khác nhau. Vua Trần Nhân Tôn một buổi sáng báo tin:
Thụy khởi khải song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi.
Điềm nhiên, vương giả, vua nói, mình vừa ngủ thức dậy, mở cánh cửa thấy một đôi bướm trắng phất phới chập chờn tới bên bông hoa. Ồ! Mới hay xuân về, hôm qua hay hôm kia?
Hình như dính líu đến mùa xuân thường có hoa và bướm. Bướm như một cánh hoa bay lượn vô tư vui vẻ, đôi lúc đem lại tâm tình thảnh thơi. Phương Nam này không đợi mùa xuân mới thấy bướm, ở trong đất rừng của chúng tôi, đôi lúc ban ngày bướm nhởn nhơ đây đó, ban đêm thì đom đóm chớp sáng chỗ này chỗ kia, không phải vì có người ngắm mà bay để điểm tô, mà đôi khi, đất đã hết rừng thì cũng ít khi thấy những cánh mong manh.
Có một điều, tôi luôn nhớ một cành lan đầu tiên, một cái Tết lần đầu có điểm tô. Hồi xưa, không có hoa cỏ gì nhiều. Cỏ thì nhiều, hoa rất hiếm. Ngày Tết kiếm được vài cành đào rừng, ra tận nhà bác Hai xin về, cắm trong lu nước bên hông nhà, đã thấy vui như Tết.
Buổi sáng trong tít mù quá khứ, ra trước cổng thấy một nhánh lan rừng. Không biết lan gì, nhưng cái kiểu lá và rễ nằm heo hút trên nhánh cây, không có đất, không có một chút gì dính dáng. Chắc là thợ đi rừng đánh xe ngang đây làm rớt, hoặc là cố ý liệng cho mấy cô. Thợ rừng chỉ để ý đến gỗ, củi, hầm than, một xe bò này tính được bao nhiêu tiền. Đi rừng lâu năm cũng biết có thứ mọc trên cao, rất phong sương khổ hạnh, cũng có thể có ra nụ ra hoa, nhưng không đáng kể.
Mấy cô thì mừng lắm, cẩn thận đem vào máng lên một cái cây rất gần, trước mặt nhà ăn, biết rằng đây là thứ cỏ lá ưa ở ngoài trời. Trong chúng có người để ý nhìn một cái, hỏi nhau tên gì, không ai biết. Chỉ biết người khách này rất dễ tính, không cần phải chăm nhiều, vài ba ngày cho một ca nước. Khí rừng buổi sáng lạnh mù sương, huynh đệ lo ăn uống cho nhanh đặng đi cuốc đất. Duy hữu sừ đầu tri ngã đạo.
Tri sự rất khẩn trương, vụ mùa đông xuân thúc hối. Một đám ruộng phẳng loang loáng nước, mấy bó mạ chờ phân phối. Chúng đã dàn hàng và bắt đầu cấy. Có rất ít tay cấy nhanh, tay cầm mạ, tay thoăn thoắt cắm xuống mặt bùn, cứ chia đều gá nhẹ nhàng cọng mạ, thoáng chốc thấy mặt ruộng đã đầy. Có mấy tay cẩn thận, cầm bó mạ và đếm, một hai ba bốn năm, rút ra năm cọng vuốt đầu đuôi bằng nhau, cắm xuống bùn, còn ấn hơi sâu một tí, bảo đảm mạ đứng vững. Người bên cạnh đã lùi ra xa, còn mình y cứ bình tĩnh, đếm, so đầu đuôi, nhét xuống ruộng. Phải nói là nhét chứ không phải cắm. Nhưng thôi, đâu ai để ý. Đời sống này là một bài học, tự mỗi người nghiệm lấy, khôn ra. Khi mọi người cấy xong, lên bờ, có một nhân vật nhìn lại hàng mạ của mình, thẳng hàng, đứng nghiêm như học trò chào cờ, vui trong lòng.
Gần một tuần, tri sự ra thăm ruộng, mạ đã bén rễ, nở bụi, xanh mướt. Có một dòng mạ đứng thẳng, đìu hiu chẳng bung tay bung chân. Tri sự lội xuống, nhớm mấy gốc mạ, kéo cho nó thoát cảnh nghiêm nghị, thầm nghĩ, tên nào cấy mạ này, sau làm tri chúng hay tri liêu là nghiêm trang phải biết. Vừa xong, trời đã trưa, trong chúng ăn cơm xong, chuẩn bị ngủ cho lẹ đặng tới chiều ra ruộng tiếp. Ăn tô cơm phần mình, nhìn đồng hồ, gần giờ thức chúng, chạy đi lấy xe đạp ra Thường Chiếu. Hôm nay thầy còn ở lại, ngày mai thầy về Chơn Không. Canh trước thất thầy, đợi thị giả mở cửa, lình xình trước thất chút xíu rồi ló đầu vào, đứng im đợi thầy ngó thấy. Thầy nhận cái chào của tên đệ tử, lẳng lặng bảo thị giả cho một ít tiền. Thầy biết từng đệ tử khi gặp thầy có chuyện gì. Tri sự mừng rơn, chạy đi đạp xe mua một bao phân, sẽ rải xuống ruộng và cái triển vọng màu xanh miên man, rồi một màu vàng đằm thắm cho một mùa Tết.
Thời gian qua, quang âm như tiễn, phong vũ như lôi. Mũi tên ngày tháng không nhắm vô ai, mọi vật cứ tuần tự diễn biến. Miền Đông Nam Bộ đã bước vào mùa khô, gió thổi lùa mấy cây lá trơ cành, thiên hạ xôn xao đón Tết. Và ngạc nhiên chưa, cọng lan làm khách với thiền viện đã cho ra một vài nụ tinh khiết. Không biết hoa nó sẽ ra sao, nhưng cả chúng ra vô ngóng ngó, kể cả mấy người vô tình nhất. Tri sự cũng dừng lại vài giây, đứng bên cọng lan trầm tư. Có một cành hoa cho đời bớt vội vã.
Chậm chạp, lần khân, vòi hoa ra dài, nhiều nụ hoa chúm chím, ô không phải một cọng là một hoa, hứa hẹn nhiều hoa lan sẽ rủ nhau về đậu trên một nhánh lan gầy guộc. Thật lạ và rất kính nể. Năm đó, hoa lan bung nở gần Tết, được trân trọng mang cả cành khô lên chưng ở chánh điện. Thơm nhẹ, đời sống nông thiền vui và dễ chịu, khi lên lễ Phật xướng tụng:
Đại từ đại bi thương chúng sanh
Đại hỷ đại xả cứu hàm thức
Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm
Chúng con chí tâm thành kính lễ.
Một nhành lan cũng lễ Phật, cũng hướng hết lòng về chốn từ bi. Chúng tôi biết nó là “Nghinh xuân”.
