Đường Thích Quảng Đức
Đường Thích Quảng Đức nằm trên địa bàn phường Đức Nhuận, TP.HCM (trước đây là các phường 3, 4, 5 thuộc Q.Phú Nhuận cũ), từ đường Phan Đăng Lưu đến đường Nguyễn Kiệm, dài khoảng 860m, lộ giới 20m, qua các ngã ba Nguyễn Đình Chiểu, Phùng Văn Cung.
Đường này thời Pháp thuộc mang tên đường làng số 19. Ngày 8-2-1955, chính quyền tỉnh Gia Định đặt tên đường Nguyễn Huệ. Ngày 14-8-1975, Ủy ban Quân quản Thành phố đổi tên đường thành Thích Quảng Đức.
![]() |
| Ảnh: Nguyên Tài |
Bồ-tát Thích Quảng Đức thế danh Lâm Văn Tuất sau đổi là Nguyễn Văn Khiết (1897-1963) nguyên quán tỉnh Khánh Hòa. Ngài xuất gia từ lúc 7 tuổi, năm 15 tuổi thọ giới Sa-di, năm 20 tuổi thọ giới Tỳ-kheo.
Ngài tham gia phong trào Chấn hưng Phật giáo ở miền Nam, từng đi khắp nhiều chùa ở Sài Gòn, Gia Định, Bà Rịa, Định Tường, Hà Tiên, sang cả Campuchia hoằng dương Chánh pháp, sau về trụ trì chùa Quán Thế Âm ở đường này.
Năm 1963, trong phong trào đấu tranh của Phật giáo chống chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, ngài phát nguyện tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám) cầu nguyện cho cuộc đấu tranh thành công.
Sự kiện vị pháp thiêu thân của ngài đã làm chấn động dư luận khắp năm châu, gây xúc động mạnh trong mọi giới, là một gương sáng cho toàn thể Phật giáo đồ trên khắp thế giới về tinh thần vô úy và tranh đấu bất bạo động nhằm bảo vệ Chánh pháp, hòa bình và độc lập.
Đường Thích Bửu Đăng
Đường Thích Bửu Đăng nằm trên địa bàn phường 1 (Q.Gò Vấp cũ), nay là phường Hạnh Thông (TP.HCM), từ đường Lê Quang Định đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, dài khoảng 1.000m, lộ giới 12m.
Đường này nguyên là con hẻm số 561 của đường Lê Quang Định, được nâng cấp cải tạo thành đường phố từ năm 1995. Ngày 13-7-1999, UBND TP.HCM đặt tên đường Thích Bửu Đăng.
![]() |
Ảnh: VNN |
Hòa thượng Thích Bửu Đăng (1904-1948) thế danh Trần Ngọc Lang, quê tại xã Bình Mỹ, Q.Gò Vấp, tỉnh Gia Định (nay là xã Bình Mỹ, TP.HCM). Ngài sáng lập chùa Linh Sơn Hải Hội (phường An Hội Tây, TP.HCM) và tại đây tham gia Mặt trận Việt Minh của tỉnh Gia Định từ năm 1941.
Sau Cách mạng tháng Tám, ngài giữ chức Ủy viên Mặt trận Việt Minh, Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Gia Định. Khi quân Pháp tái chiếm Sài Gòn rồi Nam Bộ, kháng chiến bùng nổ, ngài thoát ly ra Chiến khu An Phú Đông.
Năm 1948, trên đường từ chùa Vạn Đức trở về chùa Linh Sơn Hải Hội, do có sự chỉ điểm của mật thám, Hòa thượng Thích Bửu Đăng bị Pháp phục kích bắt giữ. Ngày 2-9-Mậu Tý, sau 3 ngày bị tra khảo, ngài vẫn nhất quyết không cung khai bất cứ tin tức gì. Giặc Pháp đem ngài ra địa điểm cầu Tham Lương xử tử.
Mặt trận Việt Minh và Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Gia Định đã làm lễ truy điệu ngài trọng thể và dựng tháp tưởng niệm trong khuôn viên chùa Linh Sơn Hải Hội không lâu sau đó.
Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Hòa thượng Thích Bửu Đăng đã được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công và Huân chương Độc lập hạng Nhì.
Đường Thích Minh Nguyệt
Đường Thích Minh Nguyệt nằm trên địa bàn phường Tân Sơn Hòa, TP.HCM (phường 2, Q.Tân Bình cũ) dài khoảng 330m, lộ giới 16m.
Đường này nguyên là con hẻm số 7 đường Phổ Quang có từ năm 1985, được nâng cấp cải tạo thành đường phố từ năm 1995. Ngày 13-7-1999, UBND TP.HCM đặt tên đường Thích Minh Nguyệt.
![]() |
| Ảnh: Nguyên Tài |
Hòa thượng Thích Minh Nguyệt (1907-1985) là vị giáo phẩm cấp cao của GHPGVN, tích cực hoạt động cho hòa bình, dân chủ, đóng góp nhiều cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng Tổ quốc.
Sau Cách mạng tháng Tám, ngài từng giữ chức vụ Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ, Ủy viên Mặt trận Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn và Nam Bộ, Chủ nhiệm Nguyệt san Tinh Tấn là cơ quan ngôn luận của Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ được thành lập trong Chiến khu Đồng Tháp Mười. Năm 1960, ngài bị bắt và bị đày ra Côn Đảo, đến năm 1970 mới được trao trả. Sau năm 1975, ngài là Chủ tịch Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM.
Ngài còn được cử đảm trách vai trò Chủ nhiệm Báo Giác Ngộ, cơ quan báo chí Phật giáo đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất, được thành lập vào tháng 12 năm 1975. Năm 1981, tại Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức ở Hà Nội, thành lập GHPGVN, ngài được suy tôn vào ngôi vị Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh.
Đường Sư Thiện Chiếu
Đường Sư Thiện Chiếu nằm trên địa bàn phường Xuân Hòa, TP.HCM (phường 6, Q.3 cũ), từ đường Bà Huyện Thanh Quan đến đường Nguyễn Thông, bên hông chùa Xá Lợi, dài khoảng 176m, lộ giới 10m.
Đường này thời Pháp thuộc chỉ là con hẻm của đường Nguyễn Thông nên gọi là Ruelle Des Eparges. Ngày 23-11-1952, chính quyền Bảo Đại đổi tên đường Lê Văn Thạnh. Ngày 4-4-1985, UBND TP.HCM đổi tên đường Sư Thiện Chiếu.
![]() |
| Ảnh: Nguyên Tài |
Sư Thiện Chiếu thế danh là Nguyễn Văn Tài (1898-1974) nguyên quán tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp). Ngài thường lui tới chùa Pháp Hoa ở Phú Nhuận, đàm đạo với Hòa thượng Thích Đạo Thanh về con đường cứu nước an dân. Năm 1940, ngài tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ. Năm 1942, ngài và Hòa thượng Thích Trí Thiền bị bắt tại Rạch Giá rồi bị đày Côn Đảo.
Sau Cách mạng tháng Tám, ngài về đất liền tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau năm 1954, ngài tập kết ra Bắc, rồi qua Trung Quốc làm chuyên gia nghiên cứu văn hóa. Năm 1961, Hòa thượng về nước, tiếp tục làm việc ở Ban Tôn giáo Trung ương cho đến lúc nghỉ hưu (1965) và viên tịch tại Hà Nội (1974).
Đường Thích Thiện Hòa
Đường Thích Thiện Hòa được UBND TP.HCM công bố trong Quyết định số 14/2000/QĐ-UB-VX vào ngày 7-4-2020 về việc đổi và đặt tên đường mới.
Đường Thích Thiện Hòa nằm trên địa bàn xã Bình Lợi, TP.HCM - trước đây là đường ấp 2-5, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh cũ, bắt đầu từ đường kênh B, ấp 6 đến ngã ba Lê Minh Xuân với chiều dài 5.000m, lộ giới 30m được trải nhựa bê-tông, lưu thông 2 chiều.
![]() |
| Ảnh: Nguyên Tài |
Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Hòa thế danh Hứa Khắc Lợi (1907-1978), quê làng Tân Nhựt - Chợ Lớn. Ngài thọ giới Cụ túc năm Ất Dậu (1945) tại chùa Bút Tháp, sau đó làm báo Hoa Sen. Năm 1949, ngài hợp tác với Sư cụ Tố Liên thành lập Giáo hội Tăng Ni chỉnh lý (tiền thân Giáo hội Tăng-già toàn quốc), mở Phật học đường tại chùa Quán Sứ, làm Giám trường, trợ bút các tạp chí Phương Tiện và Bồ-Đề tân văn. Trong thời gian làm báo, ngài thường sử dụng bút hiệu là Trí Dung.
Sau khi trở về Nam, từ năm 1950, ngài thành lập nhiều trường Phật học, trong đó có Phật học đường Nam Việt đặt cơ sở tại tổ đình Ấn Quang, nơi đào tạo nhiều thế hệ Tăng tài cho Phật giáo sau này. Tiếp theo là các Phật học đường Giác Sanh (1960), Phật học viện Huệ Nghiêm (1964), Giám đốc Phật học Ni trường Từ Nghiêm, Dược Sư…
Ngài cũng đã được chư Tăng cả nước cung cử làm Trị sự trưởng Giáo hội Tăng-già toàn quốc (1952), kiêm Trị sự trưởng Giáo hội Tăng-già Nam Việt; Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh-Kiến thiết GHPGVN Thống nhất (1964), suy tôn Phó Tăng thống GHPGVN Thống nhất (1973) cho đến ngày viên tịch.
Ngài cũng được cung thỉnh vào ngôi thập sư tại nhiều Đại giới đàn, kiến thiết nhiều cơ sở tự viện, phúc lợi xã hội phục vụ cho công tác đào tạo Tăng Ni, xây dựng Giáo hội, lợi đạo ích đời. Ngài là người đặt nền móng cho việc quản lý các cơ sở tự viện, tổ đình lâu dài theo tinh thần phụng sự của Phật giáo qua cơ chế Hội đồng Quản trị mà không phải là trụ trì.
Trong kháng chiến chống Pháp, ngài là một trong những vị che giấu nhiều cán bộ cách mạng hoạt động ở huyện Bình Chánh.
Đường Thích Mật Thể
Theo Quyết định số 14/2000/QĐ-UB-VX của UBND TP.HCM đã đặt tên “Thích Mật Thể” cho đường số 17, phường Thạnh Mỹ Lợi, TP.Thủ Đức - nay là phường Cát Lái, TP.HCM, bắt đầu từ đường số 16 đến ấp Bình Lợi với chiều dài 2.740m, lộ giới 20m.
![]() |
Ảnh: VNN |
Hòa thượng Thích Mật Thể (1912-1961) quê ở Thừa Thiên, nay là TP.Huế, tham gia Phong trào Phật giáo Cứu quốc năm 1945.
Tháng 1-1946, khi Chính phủ Lâm thời tổ chức Tổng tuyển cử, ngài ra ứng cử ở Thừa Thiên và đắc cử làm đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa đầu tiên. Cũng năm 1946, ngài được mời làm Chủ tịch Ủy ban Phật giáo Cứu quốc tỉnh Thừa Thiên.
Năm 1947, khi mặt trận chống Pháp ở Huế bị tan vỡ, ngài từ biệt Phật tử và Tăng sĩ đồng chí hướng, ra vùng kháng chiến, theo cách mạng xây dựng phong trào Phật giáo tại miền Bắc.
Trong những năm sơ tán, ngài về Nghệ An chuyên tâm phiên dịch, trước tác và viên tịch ở đây. Ngài có nhiều tác phẩm nổi tiếng như Việt Nam Phật giáo sử lược (1943), Thế giới quan Phật giáo (1967),…
Đường Ni Sư Huỳnh Liên
Đường Ni Sư Huỳnh Liên nằm trên địa bàn phườnv 10 (Q.Tân Bình cũ) - nay là phường Bảy Hiền (TP.HCM), từ đường Phú Trung đến tịnh xá Ngọc Phú, dài khoảng 600m, lộ giới I 4m.
Đường này nguyên là con hẻm quen gọi đường tịnh xá Ngọc Phú, được nâng cấp cải tạo thành đường phố từ năm 1995. Ngày 13-7-1999, UBND TP.HCM đặt tên đường Ni Sư Huỳnh Liên.
![]() |
| Ảnh: Nguyên Tài |
Ni trưởng Huỳnh Liên thế danh là Nguyễn Thị Trừ (1923-1987) xuất gia với Tổ sư Minh Đăng Quang, là vị lãnh đạo của Ni giới Khất sĩ, nguyên quán tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp). Năm 1957, Ni trưởng thành lập tịnh xá Ngọc Phương ở đường Lê Quang Định (Q.Gò Vấp cũ), chuyên tâm tu hành, hoằng pháp và công tác xã hội.
Trong phong trào đấu tranh của Phật giáo chống chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, Ni trưởng cùng chư Ni tham gia biểu tình, đưa nguyện vọng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa và tuyệt thực chống các cuộc đàn áp. Trong phong trào chống Mỹ cứu nước, Ni trưởng đứng vào hàng ngũ dân chúng biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh, đòi dân sinh, dân chủ, ủng hộ hòa bình.
Vừa qua, cùng với Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quảng - Đức Pháp chủ GHPGVN, Ni trưởng Huỳnh Liên, Đệ nhất Trưởng Ni giới hệ phái Khất sĩ được tôn vinh là một trong 60 gương điển hình tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển TP.HCM nhân dịp Kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước (1975-2025).
Đường Ngô Thị Thu Minh
Ngô Thị Thu Minh là thế danh của Sư cô Thích nữ Diệu Quang, Thánh tử đạo đã vị pháp thiêu thân trong Pháp nạn 1963 tại Sài Gòn.
Đường Ngô Thị Thu Minh nằm trên địa bàn phường 2, Q.Tân Bình cũ (nay là phường Tân Sơn Hòa, TP.HCM), từ đường Phạm Văn Hai đến đường Lê Văn Sỹ, dài khoảng 200m, lộ giới 10m. Đường này nguyên là con hẻm số 122 Phạm Văn Hai, được nâng cấp cải tạo thành đường phố từ năm 2008.
![]() |
| Ảnh: Nguyên Tài |
Sư cô Thích nữ Diệu Quang sinh năm 1936 tại Thừa Thiên (nay là TP.Huế). Vốn là một Phật tử thuần thành, năm 21 tuổi, người con gái Ngô Thị Thu Minh xuất gia và được Ni trưởng Thích nữ Như Hoa, trụ trì chùa Vạn Thạnh (Nha Trang) nhận làm đệ tử. Năm 27 tuổi, Sư cô thọ giới Tỳ-kheo-ni tại Giới đàn chùa Từ Nghiêm - Sài Gòn (nay thuộc phường Vườn Lài, TP.HCM).
Pháp nạn 1963, hưởng ứng cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật giáo chống kỳ thị, đàn áp Phật giáo, noi theo gương Bồ-tát Thích Quảng Đức, Sư cô đã phát nguyện tự thiêu.
Khi Phật giáo bị đàn áp khốc liệt, sáng ngày 15-8-1963 (26-6-Quý Mão) tại khu đất trống cạnh trường Hòa Xuyên gần ga xe lửa Ninh Hòa, Sư cô đã tẩm xăng tự châm lửa vị pháp thiêu thân.
Ngọn lửa vị pháp thiêu thân của Sư cô Thích nữ Diệu Quang là một trong những tấm gương hy sinh cao cả, thêm niềm tin đối với chân lý cho hàng triệu tín đồ Phật tử Việt Nam cùng tiếp nối.
Tôn vinh tấm gương hy sinh này, UBND TP.HCM đặt tên đường Ngô Thị Thu Minh, thế danh của Sư cô Thích nữ Diệu Quang, theo Quyết định số 4610/QĐ-UBND ngày 29-10-2008, nhằm ghi nhận sự đóng góp của Sư cô cho Đạo pháp và Dân tộc.
Bên cạnh đó, vào ngày 22-1-2014, UBND TP.HCM ra Quyết định số 06/2014/QĐ-UBND về bổ sung 1.070 tên đường vào Quỹ tên đường tại thành phố, trong đó có tên đường Thích Hành Tuệ - thuộc nhân vật lịch sử sau thế kỷ XX.
![]() |
| Chư tôn giáo phẩm Phật giáo TP.HCM viếng mộ Đại đức Thích Hành Tuệ tại Nghĩa trang Hàng Dương (Côn Đảo) - Ảnh: Văn Phúc |
Thầy Thích Hành Tuệ tham gia các hoạt động yêu nước và bị bắt giam tù khổ sai tại Côn Đảo, bị tra tấn khốc liệt và hy sinh tại nơi ngục tù trần gian này vào ngày 28-4-1973.
Mộ phần thầy hiện an trí tại khu C của Nghĩa trang Hàng Dương, đặc khu Côn Đảo.









