Lúc đầu tôi không biết viết gì, nhưng rồi nghĩ đến con số 50 năm bỗng nhiên cũng thầm lặng giật mình! Mới đó mà đã 25 năm kể từ khi tôi chia tay các đồng nghiệp thân thương một thời.
Ôn lại kỷ niệm xưa, cái đáng nhớ nhất và cũng là điều sẽ chẳng bao giờ quên được đó chính là ân đức cao vời của Hòa thượng Tổng Biên tập của hơn ba mươi năm trước. Hòa thượng là Tôn sư của Đạo tràng Pháp Hoa mà bây giờ là Đức đương kim Đệ tứ Pháp chủ.
Với chúng tôi, Báo Giác Ngộ là trường học có ý nghĩa nhất trong đời, trường đời lẫn trường đạo. Đó cũng là nơi tôi may mắn được học tập và làm việc suốt hơn mười năm dưới sự che chở của Tôn sư, chư tôn đức, và các ân nhân, đồng nghiệp. Nhiều lúc thầm nghĩ, nếu không có cơ duyên cao quý ấy, tôi không thể hình dung ra được mình sẽ đi về đâu?
Câu chuyện bắt đầu từ thập niên 1990, khi Tôn sư về làm Tổng Biên tập Báo, ngài đã quyết tâm thay đổi nội dung và hình thức của báo để theo kịp đà phát triển lúc bấy giờ. Bên cạnh nỗ lực đào tạo đội ngũ kế thừa, chỉnh trang cơ sở vật chất, sự thay đổi ngoạn mục đầu tiên đó là chuyển tờ báo từ bán nguyệt san thành tuần báo; chuyển hình thức in từ báo hai màu khổ lớn thành tập báo phổ thông, có trang bìa bốn màu. Mặc dù Hòa thượng đã dành nhiều tâm huyết cho tờ báo, trong thời điểm đó Giác Ngộ vẫn đối diện với rất nhiều khó khăn. Vì báo đã hết thời bao cấp.
Với chúng tôi, Báo Giác Ngộ là trường học có ý nghĩa nhất trong đời, trường đời lẫn trường đạo. Đó cũng là nơi tôi may mắn được học tập và làm việc suốt hơn mười năm dưới sự che chở của Tôn sư, chư tôn đức, và các ân nhân, đồng nghiệp. Nhiều lúc thầm nghĩ, nếu không có cơ duyên cao quý ấy, tôi không thể hình dung ra được mình sẽ đi về đâu?
Ở những năm 1990, Giác Ngộ được đa số Tăng Ni Phật tử ủng hộ, số lượng phát hành tuần báo trên dưới mười nghìn số mỗi kỳ, đấy là con số không nhỏ của một tờ báo tôn giáo. Nhưng khó khăn dường như lúc nào cũng vây bủa Ban Biên tập. Khi báo chí thời đó đang chạy đua trên xa lộ thông tin hiện đại của internet, nhưng tòa soạn chỉ có vài cái máy đánh chữ cũ kỹ, vẫn chưa có phòng vi tính và cũng chưa có nhân viên nào thạo máy tính. Trước tình hình ấy, Hòa thượng đã cấp tốc đầu tư xây dựng phòng vi tính tại tòa soạn và cho nhân viên đi học vi tính.
Phải mất một thời gian khá dài, Giác Ngộ mới có thể chủ động dàn trang và làm montage (lắp ráp phim ảnh, bản chữ) tại tòa soạn, rồi sau đó mới đem toàn bộ bản montage qua nhà in để in. Trước kia, muốn sửa một chữ, hay dấu chấm, dấu phẩy… cũng phải chạy qua nhà in để nhờ sửa chữa. Những năm từ 1990 đến 2000 tòa soạn luôn đối diện với những khó khăn tài chính và nhân sự.
Nhớ lại khi tôi được Hòa thượng Tổng Biên tập giao cho đi viết tin, tôi đã nỗ lực hết sức mình, viết bản tin dài mấy trang; cố gắng… tả cảnh, tả tình mà vẫn chưa nói được cái trọng tâm! Tuy vậy, khi đọc cho Hòa thượng trực tiếp nghe để quyết định, ngài vẫn ngồi yên rồi cười nhẹ. Tới chừng báo in ra, tôi hết sức thất vọng vì bài viết của mình đã bị cắt đầu, cắt đuôi gần hết, chỉ còn có mấy câu… Có lẽ đây cũng là yếu tố tạo nên cơ duyên mới cho những lớp học chuyên ngành sau này.
Hòa thượng ban đầu cho thành lập Câu lạc bộ cộng tác viên, và cử Đại đức Thiện Bảo (nay là Hòa thượng) làm Chủ nhiệm Câu lạc bộ. Đây thật sự là lớp học đầu tiên để Tăng Ni, Phật tử tham gia học làm báo. Tiếp theo, Hòa thượng đã đề nghị Hội Nhà báo Thành phố mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí và gửi Tăng Ni tham dự… Hồi đó có những vị tôn túc tham gia như Hòa thượng Thích Đạt Đạo (đã viên tịch), Hòa thượng Thích Tấn Đạt, Thượng tọa Thích Đạt Đức… và vài vị Tăng Ni khác. Lớp bồi dưỡng có chứng chỉ này chủ yếu là dạy về nghiệp vụ báo chí, cách viết tin, tường thuật, phóng sự, ký sự, nhiếp ảnh… Cho đến khi Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM mở khoa chuyên ngành Ngữ văn & Báo chí đầu tiên, Hòa thượng đã cho chúng tôi theo học.
Cùng với quá trình học tập và làm việc tại tòa soạn, Hòa thượng giao cho tôi phụ trách hai việc chính. Thứ nhất là điểm tin hàng tuần, thứ hai kết tập lại các tờ báo rời rạc xưa cũ để hình thành một bộ sưu tập. Với nhiệm vụ này, mỗi ngày tôi phải đọc hết các tờ báo lớn, sau đó viết báo cáo tóm tắt và trình cho Hòa thượng vào mỗi thứ Năm hàng tuần.
![]() |
| Tác giả - Thượng tọa Thích Tâm Thiện trong một phiên họp của Ban Tổ chức chương trình Phật học hàm thụ tại Báo Giác Ngộ (1999) |
Tôi đã làm công việc này một cách thích thú; vì vừa được đọc báo, vừa có thêm kiến thức, có lương phụ cấp, lại được gần gũi ngài nhiều hơn để được thọ học. Mỗi lần điểm tin cho ngài, tôi lại có thêm những hiểu biết sâu hơn không những từ báo chí mà còn từ những phân tích và dạy bảo của ngài. Nhớ lại, ngày mới tập làm báo, một bản tin vắn tôi đã cố viết cho dài thêm; nay thì, một tờ báo với nhiều thông tin, tôi cố gắng chỉ tóm tắt những nội dung chính trong vài dòng. Bây giờ tôi mới hiểu ra… Hòa thượng đã chủ ý tạo cho chúng tôi cơ hội để tự rèn luyện và tu dưỡng nghiệp vụ cho chính mình.
Đó quả là một phước duyên vô cùng lớn lao như được chắp cánh cho lý tưởng. Ngay cả việc kết tập báo cũ cũng là một công việc phải chịu khó. Kho báo cũ hồi đó chỉ có mấy mét vuông. Nhưng khi bước vào luôn có cảm giác choáng ngợp vì nhiều lớp báo chồng chất lên nhau lâu năm, có rải thuốc chống mối mọt. Chính vì vậy, sắp xếp lại các tờ báo theo thứ tự với tôi cũng là một công việc rèn luyện đức tính kiên nhẫn và chánh niệm.
Sau hơn 5 năm với nhiều cơ hội học tập, có lẽ đây cũng là lúc nhân duyên đã chín muồi. Lúc ấy tôi cũng đã bước vào năm cuối của đại học. Nhờ quá trình viết điểm tin hàng tuần, mà tôi đã học được cách thức tư duy của người biên tập. Khi ấn phẩm nguyệt san Giác Ngộ, phụ san nghiên cứu Phật học của báo, được thành lập (1996), Hòa thượng đã mạnh dạn giao cho tôi trách nhiệm biên tập nội dung, và tiếp theo đó là kết hợp với Ban Hoằng pháp Trung ương để biên soạn thực hiện chương trình Phật học hàm thụ (đào tạo từ xa) nhằm đáp ứng nhu cầu học Phật của Tăng Ni, Phật tử.
Có thể nói rằng, nguyệt san Giác Ngộ ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới của Giác Ngộ. Rất nhiều độc giả quan tâm đến tờ phụ trương này. Với vai trò là biên tập, chúng tôi luôn nỗ lực tìm kiếm những bài viết chất lượng cho mỗi ấn bản. Tuy vậy, nhuận bút quá ít ỏi của báo cũng là chút gì đó có phần ngần ngại. Trong những lúc như thế, chúng tôi đã trình Hòa thượng và ngài đã âm thầm hỗ trợ thêm một cách nhẹ nhàng nhằm thể hiện tấm lòng đối với các tác giả, nhất là với các bài viết công phu. Trong thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo và che chở của ngài, tờ nguyệt san đã vươn lên con số trên mười nghìn, có lúc tới mười bốn nghìn ấn bản cho mỗi kỳ phát hành.
… Nay nguyệt san Giác Ngộ đã bước vào năm thứ 30, ấn bản thứ 356 trong khi Giác Ngộ chính thức Kỷ niệm 50 năm thành lập, theo dòng cát bụi thời gian, chư tôn đức và các nhân sĩ lãnh đạo của Báo phần nhiều đã viên tịch. Hòa thượng Tôn sư, vị lãnh đạo và dắt dẫn tờ báo lâu nhất, 32 năm, nay cũng đã bước đến ngưỡng cửa của tuổi chín mươi. Tuy vậy, cho đến bây giờ, cái vẫn hiện hữu nơi đây chính là ánh sáng Giác Ngộ tương thừa. Ánh sáng ấy đã trực tiếp hoặc gián tiếp nuôi dưỡng tâm Bồ-đề của bao thế hệ Tăng Ni, Phật tử.
Dầu đã xa vắng tờ báo hơn 25 năm rồi, nhưng ký ức và kỷ niệm xưa vẫn luôn là hơi ấm nuôi lớn đời sống của tâm hồn bé bỏng một thời. Ân đức và tuệ đức của Hòa thượng Tôn sư và các bậc tiền nhân sẽ vẫn mãi là ngọn đèn soi sáng cho hiện tại và mai sau.
Lệ Đức là pháp hiệu của Thượng tọa Thích Tâm Thiện, Tiến sĩ Triết học, hiện là tu viện trưởng tu viện Thượng Hạnh, tu viện Cát Trắng (Hoa Kỳ). Thầy làm việc tại Báo Giác Ngộ từ năm 1992 cho đến năm 2000; qua các vai trò phóng viên, biên tập viên phụ trách nguyệt san Giác Ngộ, Thư ký Ban Tổ chức Chương trình Phật học hàm thụ, Trợ lý Tổng Biên tập, tác giả của nhiều tác phẩm đã xuất bản trong cũng như ngoài nước.

