LTS: Phật giáo Nam bộ với đặc điểm phát triển trên một vùng đất mới có cơ sở văn hóa bản địa đa dạng. Khi Phật giáo hiện diện tại Nam bộ hòa cùng với các yếu tố bản địa làm nên một sắc thái riêng biệt. Trong quá trình phát triển của mình, Phật giáo tại Nam bộ mang đặc điểm quan trọng không thể bỏ qua đó là việc Phật giáo gắn bó với đất nước ta trong quá trình mở cõi về phương Nam. Chính quá trình mở rộng lãnh thổ đó, với sự có mặt của Phật giáo đã góp phần định hình đời sống tinh thần của cư dân Việt nơi vùng đất mới. Di sản của thời kỳ phát triển đó tồn tại trong phương cách hành đạo, và lắng đọng trong các di sản vật chất còn sót lại. Bảo tồn di vật theo các phương thức vật lý là điều tất nhiên, nhưng gìn giữ cái hồn của di vật, giá trị tinh thần mà nó mang theo là một điều phải lưu tâm.
Chùa Giác Viên (P.Bình Thới, TP.HCM) sau thời gian đại trùng tu trên cơ sở giữ nguyên vẹn nguyên bản, hiện nay đã mang một diện mạo mới. Đồng thời những di vật hiện còn mang theo những giá trị đặc sắc. Trong số đó, tấm pháp bị bằng gỗ tại trai đường là một hiện vật đặc biệt, gần như là độc bản của Phật giáo Nam Bộ xưa.
![]() |
| Chánh điện chùa Giác Viên sau đại trùng tu - Ảnh: Nguyên Tài/BGN |
Cái nôi của ứng phú đạo tràng Nam Bộ
Tăng cang Tiên Giác - Hải Tịnh (1788–1875) sau khi từ nhiệm Tăng cang tại kinh đô Huế trở về lại Gia Định, đã vun vén cho sinh hoạt Phật giáo Nam Bộ, trong đó có việc bảo tồn và phát huy tinh hoa nghi lễ Phật giáo cổ truyền nói chung và miền Nam nói riêng. Năm Canh Tuất (1850), ngài tổ chức một đại hội tại chùa Giác Lâm, để thực hiện các công việc đặt định điển phạm thống nhất cho nghi lễ Phật giáo tại Nam Bộ và đề xuất thành lập cơ sở đào tạo cho khoa ứng phú.
Ngay trong năm đó, Hòa thượng cho trùng tu Quán Âm viện, đổi hiệu thành chùa Giác Viên, để làm trường đào tạo nghi lễ. Đến năm Kỷ Tỵ (1869), lúc 82 tuổi, Hòa thượng phó thác Phật sự chùa Giác Lâm cho trưởng tử là ngài Minh Vi - Mật Hạnh (1828-1898). Chùa Giác Viên được phó thác cho ngài Minh Khiêm - Hoằng Ân (1850-1914), một vị đệ tử trẻ, đạo hạnh trang nghiêm. Từ đó, Tổ Minh Khiêm - Hoằng Ân kế thừa tâm nguyện thầy, trở thành giáo thọ sư lớp học nghi lễ tại chùa Giác Viên, một trong những cái nôi nghi lễ Phật giáo miền Nam.
Công đức của Tổ Minh Khiêm - Hoằng Ân đối với Phật giáo rất khó kể hết. Ngài không chỉ chấn hưng nghi lễ và phát triển ứng phú đạo tràng, mà còn hết lòng hoằng dương Phật pháp, thiết lập điển phạm truyền giới và khắc in kinh luật để lưu truyền. Trong số nhiều công trình mộc bản, viết tay, diễn Nôm, chứng minh để lưu thông của ngài, có thể kể đến: Hứa Sử vãn truyện, Kinh Pháp hoa, Thiền môn Trường hàng luật, Nhơn quản thiệt lục toàn bản, Lăng nghiêm kinh tán, Mông Sơn thí thực khoa nghi, Tống đàn tăng, Quy nguơn trực chỉ…
Một hiện vật độc bản đặc biệt
Tấm pháp bị được chế tác bằng gỗ rất đẹp tại chùa Giác Viên (P.Bình Thới, TP.HCM) được nhà chùa lưu truyền là có từ lớp gia giáo ứng phú đạo tràng của Tổ Minh Khiêm - Hoằng Ân và cũng chính ngài là người làm nên tấm pháp bị này.
Khi thiết đàn chẩn tế, phía sau chỗ ngồi của vị gia trì sư (chủ sám) – hay được gọi một cách gần gũi theo cách người Nam Bộ là thầy cả, có một tấm bình phong trên đó vẽ hình con sư tử. Đây gọi là pháp bị (法被). Trong trường hợp này, bị (被) được hiểu là sự che chắn, bao phủ, bao trùm khắp cả. Như thành ngữ “quang bị tứ biểu” 光被四表: sáng khắp cả bốn cõi. Pháp bị thường được làm bằng tấm vải để treo lên phía sau vị thầy cả, nhưng tại chùa Giác Viên, pháp bị được chế tác hẳn bằng gỗ.
![]() |
| Mặt trước bức pháp bị - Ảnh: Nguyên Tài/BGN |
Trở lại với ý nghĩa của tấm pháp bị, theo Đại trí độ luận, Phật là sư tử vương trong loài người. Bất kỳ chỗ nào Phật ngồi, dù đó là góc phố hay nơi trống trải, chỗ đó được gọi là “tòa sư tử”. Sư tử hống là tiếng rống của con sư tử, ví cho pháp âm của Đức Phật oai hùng, làm chấn động cả Tam giới.
Trong kinh Duy-ma-cật, phẩm Phật quốc có đoạn: “Sư tử hống là tiếng rống của con sư tử, là âm thinh không sợ hãi, phàm giáo thuyết của Ngài nói ra đều không sợ giáo học khác của chúng tà đạo, giống như tiếng rống của con sư tử làm cho các loài thú đều phải thần phục”.
Trong đàn nghi chẩn tế, sự xuất hiện của pháp bị được thiết trí trang nghiêm nhằm bày tỏ lòng tôn kính đối với vị thầy cả. Trên pháp bị có bức họa hình sư tử vương để tiêu biểu cho sự hùng mạnh của Chánh pháp, tiếng rống của sư tử vương khiến trăm thú nép sợ tháo chạy, tiếng pháp âm vi diệu có thể đẩy lùi nhiễm ô, xóa tan bóng tối phiền não vô minh.
Kinh Đại bát Niết-bàn nói về ý nghĩa sư tử hống: “Một là vì muốn phá dẹp những loài chẳng phải thiệt sư tử mà dối làm sư tử. Hai là vì muốn thử sức mình. Ba là vì muốn khiến chỗ ở thanh tịnh. Bốn là vì muốn bầy sư tử con biết nơi chốn. Năm là vì muốn đàn sư tử không tâm kinh sợ. Sáu là vì muốn kẻ ngủ được thức tỉnh. Bảy là vì muốn tất cả những thú phóng dật được siêng năng chẳng phóng dật. Tám là vì muốn những thú khác đến chầu hầu. Chín là vì muốn điều phục đại hương tượng. Mười là vì dạy các con cái. Mười một là vì muốn trang nghiêm quyến thuộc của mình”.
Từ di sản vật chất đến giá trị giáo dục sâu sắc
Thiết nghĩ, để nói về tư cách và điều kiện để có thể ngồi trên pháp tòa và phía trước tấm pháp bị này để tuyên hành pháp sự khoa nghi, thật không dễ dàng. Nếu chẳng phải là hàng Tăng-già thì dù cư sĩ chứng quả A-na-hàm cũng chẳng nên làm pháp sự này. Điều này đã được chư Tổ nhắc nhở hàng xuất gia và tại gia ngay trên tấm pháp bị, một lời cảnh sách nghiêm khắc!
眞師子具爪牙, 方䏻出窟
假鶏鳴瞞耳目, 莫入過関
Phiên âm:
Chơn sư tử cụ trảo nha, phương năng xuất quật
Giả kê minh man nhĩ mục, mạc nhập quá quan!
Xin tạm diễn nghĩa như sau:
Người thiệt tu có công phu, giới hạnh, trí huệ, như sư tử có đủ vuốt nanh, mới có thể đủ sức hoằng hóa, độ sanh.
Còn kẻ chỉ bắt chước hình tướng bên ngoài, như gà giả gáy, thì chỉ lừa tai mắt người, không thể nhập vào và vượt cửa tương ưng của tam nghiệp thì chẳng những không thành tựu mà còn tự hại mình hại người.
![]() |
| Câu đối được khắc trên mặt trước bức pháp bị - Ảnh: Nguyên Tài/BGN |
Xét về mặt Hán tự, chữ “sư” 獅 trong “sư tử” (động vật) vốn phải mang bộ khuyển, nhưng ở đây Tổ sư lại cố ý dùng chữ “sư” 師 (người thầy), không có bộ khuyển; sư tử đây là để chỉ người đệ tử, tức là người học trò được trưởng dưỡng trong sự giáo huấn của thầy. Người học trò ấy phải hội đủ “tâm – đức – lực” mới có thể đường đường xuất sư, gánh vác đạo pháp. Vì vậy, lời răn dạy ấy chẳng phải chỉ để trưng bày trên pháp bị, mà là tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả hàng hậu học. Chư Tổ trước sau đều muốn nhắc nhở: người tu, đặc biệt với những vị gia trì sư, xiển dương khoa ứng phú, đem đạo vào đời nếu không miên mật công phu, không nghiêm trì giới hạnh thì khó mà tiếp nối huệ mạng Như Lai. Cho nên, mỗi bước trên đường đạo phải luôn tinh tấn, không được chút nào buông lung hay lơ là vậy.
Phản ảnh tinh thần hành đạo của Phật giáo Nam Bộ
Trở lại với tấm pháp bị tại chùa Giác Viên, nếu ở mặt trước là hình của sư tử hống, thì mặt sau là tranh vẽ điển tích: Hổ Khê tam tiếu (虎溪三笑).
Đại sư Huệ Viễn 慧遠 là một vị cao tăng Phật giáo Trung Hoa thời nhà Tấn, được tôn làm Sơ tổ Liên tông. Ngài kiến tạo chùa Đông Lâm ở Lô Sơn, Giang Tây và nơi đây trở thành trung tâm Phật giáo, quy tụ nhiều văn nhân và đạo sĩ đương thời. Suốt nhiều năm, ngài tu hành nghiêm tịnh, phát nguyện: “bóng không ra khỏi núi, dấu không vào đời tục”. Ngài muốn chuyên tâm tu học nên khi tiễn khách thì không bao giờ vượt qua cầu Hổ Khê. Một hôm, Nho sĩ Đào Uyên Minh (陶渊明) và Đạo gia Lục Tu Tịnh (陸修靜) đến đàm đạo cùng ngài, câu chuyện hòa hiệp sâu sắc. Khi tiễn khách, cả ba vô tình bước qua cầu Hổ Khê, bất ngờ cọp dưới khe gầm vang, tà dương soi bóng ba người lên vách núi. Cả ba nhìn nhau cười to, rồi ai về đường nấy. Người đời sau tạo Tam tiếu đồ, dựng Tam tiếu đình, làm thi vịnh để ghi dấu tích truyện này. Từ đó, người đời gọi điển tích ấy là Hổ Khê tam tiếu (虎溪三笑).
![]() |
Tích Hổ Khê tâm tiếu ở mặt sau bức pháp bị - Ảnh: Nguyên Tài/BGN |
Tiếng hổ gầm dưới khe là biểu tượng cho lời kêu cứu của chúng sanh giữa cõi trần mê muội. Ánh tà dương gợi dấu hiệu suy tàn của đạo đức, chiếc cầu tượng trưng cho dòng đời vô thường, còn bóng ba người in trên vách núi là hình ảnh của bản thể chơn như và giá trị đạo lý bất biến. Khi cả ba cùng cất tiếng cười vang, ấy là tiếng đồng vọng của tam giáo: Phật, Nho và Đạo. Thể hiện tinh thần hòa hiệp và đồng cảm sâu xa trước nỗi khổ của nhơn sanh. Cả ba cùng lắng nghe “tiếng gầm” của cuộc đời, khơi dậy lòng trắc ẩn và khát vọng hóa độ.
Hình ảnh ba bực hiền triết đứng bên suối Hổ Khê, trong ánh chiều tà và tiếng cười ngân xa giữa núi rừng tịch mịch, trở thành biểu tượng của tam giáo đồng nguyên.
Cũng như ý nghĩa sâu xa của điển tích, khoa nghi chẩn tế trong Phật giáo chính là sự thể hiện sống động của tinh thần ấy. Trong mỗi buổi chẩn tế, ta có thể thấy tư tưởng từ bi cứu khổ của Phật giáo hòa quyện cùng đạo lý nhân nghĩa, hiếu thuận của Nho gia và tinh thần cảm thông, hòa hiệp với vạn vật của Đạo gia. Từ kinh văn ấn quyết, âm nhạc nghi lễ, pháp phục đến cách hành trì, nghi thức đăng đàn chẩn tế không chỉ là một lễ kỳ siêu, mà tất cả đều phản chiếu sự dung thông giữa ba nền tư tưởng lớn, hướng con người đến tâm từ, trí sáng, hành thiện, v.v… đúng như tinh thần mà ba bực hiền triết bên suối Hổ Khê từng đồng tâm thể hiện qua nụ cười năm xưa.
Nho sĩ và Đạo gia đi vào Đông Lâm để tìm gặp Thích tử, cả ba đàm luận tâm đắc vì Hình nhi thượng học của Nho giáo, triết lý Vô vi của Đạo gia rất gần giáo lý Bát-nhã của Phật giáo nhưng cả hai vẫn còn ít nhiều hạn chế trong việc đi đến giải thoát toàn diện sanh tử luân hồi như Phật giáo. Khi đại sư tiễn Nho sĩ và Đạo gia, bước qua cây cầu đá, dường như ngầm nhắn nhủ rằng Phật giáo cũng cần nhập thế, không chỉ dừng lại ở việc cầu giải thoát tâm linh cho riêng bản thân.
Hình ảnh của Tổ sư Huệ Viễn bước qua cầu Hổ Khê năm xưa cũng chính là dụ ngôn của Tổ Minh Khiêm - Hoằng Ân, đã tài tình ẩn ý khắc vẽ lại điển tích này sau tấm pháp bị cho hàng hậu học hiểu rõ hơn về khoa nghi chẩn tế đó chăng?
Vào những năm tháng cuối đời, sau khi yên tâm giao lại chùa Giác Lâm và chùa Giác Viên cho đệ tử, Tổ Hoằng Ân đã đi nhiều nơi ở Nam Kỳ lục tỉnh để hoằng hóa. Khi thì xuồng ghe đi trên sông nước, khi thì trèo non lội núi đến vùng hiểm trở Thất sơn. Đến đâu, ngài cũng để lại niềm kính mến sâu sắc trong lòng nhơn sanh mà sau này thường được quần chúng nhắc lại với cái danh xưng thân quen “Tổ núi Sam”. Dù chân các ngài đã vượt cầu Hổ Khê, nhưng bóng các ngài đâu bao giờ rời khỏi Lô Sơn?
Hổ Khê tam tiếu là biểu tượng sống động nói lên cái hồn cốt Nam Bộ trong suốt mấy thế kỷ hành đạo nơi vùng đất mới này. Nụ cười bên suối, bước chân qua cầu đá Hổ Khê nhắc nhở tinh thần nhập thế, nâng đỡ và đồng cảm với chúng sanh. Qua tấm pháp bị tại chùa Giác Viên, Tổ Minh Khiêm – Hoằng Ân như gởi gắm thông điệp về nét đẹp của nghi lễ Phật giáo nói chung và khoa nghi chẩn tế nói riêng.
![]() |
Chùa Giác Viên (P.Bình Thới) sau đại trùng tu - Ảnh: Nguyên Tài/BGN |
Trải qua bao thế hệ, chư Tổ sư Phật giáo Việt Nam nói chung và chư Tổ miền Nam nói riêng, đã dày công hộ trì và phát huy ứng phú đạo tràng, làm rạng rỡ nếp đạo truyền thừa. Dẫu tiếp nhận tinh ba từ tam giáo và văn hóa dân gian, chư Tổ vẫn khéo léo dung hòa, gìn giữ tinh thần Chánh pháp làm gốc, cố gắng không rơi vào hình thức hay tà pháp mê tín.
Nhờ tâm chí thành, giới hạnh và trí huệ siêu việt, các ngài đã khiến cho âm thanh chuông trống, lời kinh tiếng kệ nơi đàn tràng không chỉ là nhạc lễ cúng dường, mà là tiếng hống của sư tử chúa, âm thinh Chánh pháp vang động giữa trời người, khiến bao tâm mê được tỉnh ngộ, bao oán nghiệp được siêu thăng. Công đức ấy mãi là tấm gương cho hàng hậu học noi theo, tiếp nối đạo nghiệp hoằng pháp lợi sanh của chư Tổ.





