Ấn Độ, quốc gia với một bán đảo rộng lớn được bao quanh bởi biển ở ba mặt, có nhiều cơ hội trong lĩnh vực thương mại. Nếu xem xét các bằng chứng, chúng ta thấy rằng truyền thống hàng hải của Ấn Độ có từ thời kỳ định cư của nền văn minh thung lũng sông Indus. Hình ảnh tàu thuyền trên các con dấu và tranh vẽ thuộc nền văn minh Harappan cho chúng ta thấy hoạt động thương mại hàng hải của họ với các nền văn minh khác như Mesopotamia và Ai Cập cổ đại.
Trong số các nguồn văn học, văn học Vệ-đà có nhiều nơi đề cập đến tàu thuyền và các chuyến đi biển. Trong Rigveda, Varuna được mô tả là chúa tể của biển cả và biển được mô tả là Ratnakara (kho báu của cải). Các sử thi như Ramayana và Mahabharata có nhiều đoạn cho thấy sự tương tác giữa Ấn Độ và các quốc gia xa xôi. Các câu chuyện Jātaka của Phật giáo cũng đề cập đến nhiều chuyến hành trình bằng đường biển và những nguy hiểm liên quan đến những chuyến hành trình này(1).
![]() |
Một di tích Phật giáo ở Nagarjunakonda |
Thương mại và Phật giáo
Các nhà sử học và khảo cổ học đã nghiên cứu rất nhiều về các tuyến đường thương mại từ cả bờ biển phía Đông và phía Tây của bán đảo Ấn Độ cũng như các khu định cư Phật giáo mà chúng đóng vai trò là trung tâm thương mại. Các câu chuyện Jātaka cũng như các ghi chép và tranh tượng Phật giáo cho thấy rằng các Phật tử đã tham gia vào các hoạt động thương mại hàng hải. Ở phía Đông, Phật giáo có thể đã được truyền bá rộng rãi vào thời kỳ Maurya và có thể cả vào thời kỳ Satavahana, sau đó lan sang phía Tây Ấn Độ. Có rất nhiều bằng chứng khảo cổ cung cấp thông tin về các sản phẩm thương mại, các cộng đồng tham gia, mô hình định cư và lối sống của họ, cũng như các nghi lễ và tín ngưỡng liên quan khác nhau.
Các bản chữ khắc từ khu vực phía Tây và phía Đông của Deccan cho thấy mối quan hệ tốt đẹp và lành mạnh giữa giới thương nhân và các cộng đồng Phật giáo. Các bằng chứng khảo cổ từ những địa điểm như Amravati, Nagarjunakonda và những nơi khác ở Deccan cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa các cộng đồng Phật giáo và các thương nhân địa phương cũng như với các phường hội thương nhân tham gia vào hoạt động thương mại hàng hải.
Các tuyến đường thương mại nối kết các quốc gia Trung Á và thế giới hàng hải ở vịnh Bengal trở nên phổ biến vào thời kỳ Kushana (thế kỷ I-III CN) khi Phật giáo được triều đại này bảo trợ và truyền bá sang Trung Quốc và các nước châu Á khác thông qua Con đường tơ lụa(2).
Trái ngược với quan điểm của Bà-la-môn giáo, Phật giáo tích cực ủng hộ các chuyến hành trình đường biển. Những bằng chứng sớm nhất được tìm thấy liên quan đến Phật giáo ở các vùng biển Đông Nam Á có niên đại từ thế kỷ V đến VI CN, nhưng các học giả đã chỉ ra các đặc điểm kiến trúc của Nagarjunakonda và Amravati trên các bảo tháp cũng như việc phát hiện các bản chữ khắc Phật giáo theo phong cách Maurya ở những khu vực này, cho thấy rằng Phật giáo đã bắt đầu du nhập vào khoảng thế kỷ II CN. Bức phù điêu ở Bharhut cho thấy một con quái vật biển đang đe dọa nuốt chửng một chiếc thuyền là bằng chứng rõ ràng về sự tham gia của Phật giáo vào các hoạt động hàng hải.
Các hang động ở Ajanta, Ellora và Aurangabad miêu tả Bồ-tát Quán Thế Âm như một vị thần bảo hộ cho các thủy thủ gặp nạn. Nhiều hình ảnh của Tara, vị Bồ-tát bảo vệ khỏi những tai họa như vậy, đã được tìm thấy ở Ratnagiri, Orissa. Trong bài viết Buddhism and the Maritime Crossing (Phật giáo và việc vượt biển), Tansen Sen nói về việc các bản kinh, lễ vật và pháp khí Phật giáo được các thương nhân đưa đến những vùng đất xa xôi như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cùng với những hàng hóa khác. Điều này cho thấy rằng cùng với việc trao đổi hàng hóa, các nghi lễ và văn hóa cũng diễn ra và các thương nhân đóng một vai trò rất quan trọng trong việc này.
![]() |
Trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường, tác phẩm điêu khắc tại Bharhut |
Nguồn tư liệu khảo cổ
Đối với các địa điểm trên bờ biển phía Đông của Ấn Độ, những cuộc khai quật khảo cổ tại các khu vực ven biển Bengal, Odisha, Andhra và Tamil Nadu đã tìm thấy những đồ gốm có hoa văn xoắn óc, đồ gốm có núm, đồ gốm đen bóng thuộc khu vực phía Bắc, đồ gốm Trung Quốc, tiền xu bạc có lỗ, tiền xu La Mã, chữ viết Kharoshti và đá quý(3). Những loại đồ gốm tương tự cũng được tìm thấy ở Bali, Bangladesh, Java, Malaysia và Thái Lan. Tiền xu có lỗ và đồ gốm đen bóng thuộc khu vực phía Bắc rõ ràng thuộc về triều đại Maurya, cho thấy đế chế này đã tích cực tham gia vào thương mại quốc tế. Đồ gốm có hoa văn xoắn óc, đồ gốm có núm, đồ gốm Trung Quốc và tiền xu La Mã cho thấy mối quan hệ thương mại rộng lớn với Trung Quốc và La Mã.
Dựa trên cơ sở các bản chữ khắc, những chi tiết được ghi chép trong các văn bản địa phương và nước ngoài, cùng với tên địa danh, người ta đã phát hiện ra rất nhiều di tích Phật giáo trên khắp bang Tamil Nadu. Các di tích bao gồm tượng đá và tượng đồng, các tàn tích kiến trúc, bản chữ khắc và tranh vẽ. Ngài Huyền Trang, người đã ở Ấn Độ từ năm 629-645, đề cập rằng Kancipuram có hơn 100 ngôi chùa với hơn 10.000 thành viên sinh sống, tất cả đều thuộc Thượng tọa bộ. Ngài cũng đề cập rằng Đức Phật từng đến nơi này và vua Ashoka đã cho xây dựng các bảo tháp tại nhiều địa điểm mà Đức Phật đã thuyết pháp và thu nhận người vào Tăng đoàn. Một di tích Phật giáo khác ở Tamil Nadu được ngài Huyền Trang nhắc đến là Malakuta, nơi ngài nhìn thấy nhiều tàn tích của các ngôi chùa cổ. Tamil Nadu có mối quan hệ thương mại hàng hải mạnh mẽ với các nước phương Tây, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Số lượng lớn tiền xu La Mã, đồ gốm và các hiện vật khác đã chứng minh điều này. Ngoài ra, còn có rất nhiều tiền xu và hiện vật có xuất xứ từ Trung Quốc và Đông Nam Á được tìm thấy ở Tamil Nadu.
Từ việc khai quật tại Sisupalgarh (gần Bhubaneswar), Odisha, các nhà khảo cổ phát hiện rằng nơi đây đã có người sinh sống từ thế kỷ III TCN đến giữa thế kỷ IV CN. Một số tấm tròn bằng đất sét có hình vẽ động vật đầu người được tìm thấy ở đây. Thiết kế này rất giống với một thiết kế được tìm thấy trên tiền xu La Mã(4). Điều này cho thấy đã có một số tương tác thương mại với người La Mã ở vùng đất này. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể nhìn thấy các bức phù điêu điêu khắc hình voi mang thuyền trên các bức tường của đền Jagannath (của Hindu giáo) ở Puri. Một bức phù điêu khác ở đền Konark mô tả một con hươu cao cổ được chở trên thuyền. Điều này giúp củng cố giả thuyết rằng ngay cả những hàng hóa nặng như vậy cũng được xuất và nhập khẩu bằng đường biển(5).
Tại Arikamedu, một trong những địa điểm Phật giáo đáng chú ý nhất ở miền Nam Ấn Độ, các nhà khảo cổ đã tìm thấy các đồ gốm như đồ gốm Arretine, vò hai quai, đồ gốm đen có hoa văn xoắn ốc được nhập khẩu từ vùng Địa Trung Hải(6). Trong số những hiện vật khác, có tiền xu La Mã và các đồ tạo tác như bát thủy tinh, đèn, đá quý Hy Lạp - La Mã và đồ gốm men ngọc Trung Quốc.
Bờ biển phía Tây của Ấn Độ có rất nhiều ngôi chùa hang được khoét đục vào vách đá mà chức năng chính của chúng là làm nơi cư trú và tu tập cho các Tăng sĩ Phật giáo, nhưng chúng cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển thương mại giữa Ấn Độ và các nước phương Tây từ thế kỷ I TCN đến thế kỷ III CN. Vùng đồng bằng ven biển hẹp này, ngày nay được gọi là Konkan, có các khu định cư mà chúng tham gia vào thương mại hàng hải với các nước Ả Rập xa xôi. Với sự bành trướng của đế chế Mauryan vào thế kỷ III TCN ở vùng Bihar, việc tìm kiếm vàng và đá quý đã đưa họ đến các vùng biên giới phía Tây, và sự khám phá và bành trướng của đế chế này đã đưa đến sự phát triển các cảng và trung tâm thương mại. Hàng hóa xuất khẩu sang Rome bao gồm nhiều loại gỗ như gỗ đàn hương, gỗ tếch và gỗ mun, đá quý, vải vóc, gia vị, v.v. và đổi lại là rượu vang, thủy tinh, đồ gốm cùng với tiền xu La Mã.
Nguồn tư liệu văn học
Tác phẩm Periplus Maris Erythraei (Chuyến hải trình quanh Biển Đỏ) có lẽ cung cấp mô tả chi tiết đầu tiên về các loại thuyền địa phương ở Ấn Độ Dương và đã đề cập đến bờ biển Orissa vào thế kỷ I CN, cùng với một số loại thuyền trải dài từ bờ biển Đông Phi đến bờ biển phía Tây Ấn Độ. Tác giả cũng đề cập đến các cảng, nơi neo đậu, hướng gió và điều kiện đi biển của bờ biển phía Đông Ấn Độ(7).
Vào thế kỷ II CN, Ptolemy đã đề cập đến cảng Palur. Vào thế kỷ V CN, Pháp Hiển, một nhà hành hương người Trung Quốc, đã mô tả chi tiết cảng Tamralipti, nơi ngài bắt đầu chuyến đi đến Sri Lanka. Và vào thế kỷ VII, ngài Huyền Trang cũng đã viếng thăm Orissa và mô tả Chelitalo là nơi nghỉ chân cho các thương nhân đi biển trong các ghi chép của mình.
Trong Trường bộ kinh, chúng ta thấy có đề cập đến Dantapura (thuộc nước Kalinga) như một trong bảy thành phố nổi tiếng của Ấn Độ và do vua Sattabhu cai trị. Chuyện tiền thân Chullakalinga nói rằng Dantapura có hệ thống đường sá kết nối tốt với nhiều nơi khác. Mahavasthu, một tác phẩm Phật giáo của Sri Lanka, đề cập rằng Dantapura là một trong bảy thành phố lớn của Ấn Độ. Tất cả những nơi này đều tham gia vào các hoạt động thương mại.
![]() |
| Ratnagiri là một di tích Phật giáo ở Odisha |
Các cảng và sự kết nối của chúng với đất liền
Các cuộc khai quật khảo cổ gần đây trên bờ biển phía Đông đã tìm thấy bằng chứng về các nhà kho, cầu tàu và hải đăng tại nhiều địa điểm khác nhau như Dharanikota, Arikamedu và Mahabalipura; ở đó người ta đã phát hiện nhiều công trình bằng gạch, kênh dẫn đường thủy được đục vào đá và các công trình khác.
Các thương nhân là những người hỗ trợ Phật giáo rất nhiệt thành. Với nền tảng tư tưởng mà Phật giáo cung cấp cho thương mại, các thương nhân, đặc biệt là thương nhân đường biển, đã tương tác tích cực với Phật giáo. Ở Kanheri, người ta đã phát triển hình tượng Bồ-tát Quán Thế Âm như một vị thần cứu độ(8). Ngài là vị thần cứu giúp, bảo vệ các thương nhân đi biển khỏi những hiểm nguy của chuyến đi. Từ thế kỷ VI trở đi, Bồ-tát Tara đã trở nên phổ biến trong giới thương nhân như một vị thần bảo hộ. Ở Ratnagiri, Bồ-tát Tara được mô tả là đang cứu giúp một con tàu đang gặp nạn. Mối liên hệ của Bồ-tát Tara với các thương nhân đi biển ở Odisha cũng được chứng thực từ truyền thuyết dân gian.
Sự giao thoa giữa các nền văn hóa và nghi lễ rất rõ rệt ở các khu định cư Phật giáo và vẫn được người dân nơi đây thực hành cho đến ngày nay. Các lễ hội như Bali yatra (chuyến đi đến Bali), một lễ hội hàng hải cổ xưa dành riêng cho sự an toàn của các thương nhân, vốn được tổ chức ở Bali, Java, Mã Lai, Sumatra và Thái Lan, cũng được người dân Odisha tổ chức như một hoạt động xã hội.
Kết luận
Sau khi xem xét tất cả các tài liệu đã đề cập và các ghi chép khảo cổ, có thể kết luận rằng hoạt động thương mại cả trên bộ và trên biển đã phát triển mạnh mẽ ở Ấn Độ vào thời kỳ cổ đại nhờ vị trí địa lý thuận lợi và nguồn tài nguyên phong phú, đồng thời Phật giáo cũng đóng một vai trò quan trọng trong đó. Bên cạnh đó, do nhu cầu cao về các tôn tượng, lễ phẩm và pháp khí Phật giáo ở nước ngoài, các cư sĩ và các thương nhân, với sự bảo trợ của các vua chúa, đã cùng nhau bắt đầu hoạt động thương mại ở quy mô lớn. Do sự ảnh hưởng từ bên ngoài và bên trong, chẳng hạn như việc tiếp thu văn hóa và nghi lễ của các vùng đất khác nhau, nghi lễ bản địa của Phật giáo đã có sự thay đổi. Các cơ sở Phật giáo đóng vai trò là trung tâm thương mại và có các phường hội thương nhân định cư xung quanh, ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân. Ảnh hưởng này cũng có thể thấy trong kiến trúc của chúng, ví dụ như nhiều hình ảnh mô tả hoạt động hàng hải trên các cột, tấm phù điêu hoặc cấu trúc của các bảo tháp. Các hoạt động thương mại hàng hải này không chỉ giúp Phật giáo mở rộng phạm vi thực hành ở Ấn Độ mà còn đến các vùng đất xa xôi như Trung Quốc, Thái Lan, Bali, Java, v.v.
-------------------
(1)Sila Tripati, Ancient maritime trade of the eastern Indian littoral, tr.10-76.
(2)Xinru Liu, The Silk Road in World History (New York: Oxford University Press, 2010), tr.42.
(3)Xem bài viết của Sila Tripathi, Manganement of Ports and Maritime Trade of Orissa and Andhra Pradesh during the Historical Period.
(4)Xem Upinder Singh, Mysteries of the past Archaeological sites in India, Sisupalgarh.
(5)Xem Orissa Review, Orissa and Indonesia, A trading of cultures, Mani Padma Jena, 1995.
(6)R.E.M. Wheeler, Arikamedu: An Indo-Roman Trading-Station on the East Coast of India, tr.34.
(7)Sila Tripati, Ancient maritime trade of the eastern Indian littoral, tr.1076.
(8)Xem H.P. Ray, Colonial Archaeology in South Asia, OUP India, 2007.
(NSGN - 359)



