Để tìm kiếm câu trả lời khả dĩ, đòi hỏi chúng tôi phải khảo lại vài nét về những hoạt động liên quan trong mùa Phật đản, dựa theo tư liệu kinh điển cũng như những cứ liệu lịch sử, xưa cũng như nay.
Trong thời Phật, việc trì tụng kinh điển như một quy trình học pháp đã được các đệ tử của Ngài thực hiện. Kinh Tương ưng bộ, kinh Tăng chi bộ đã ghi nhận về những trường hợp này. Đặc biệt, trong kinh Tương ưng bộ đã dành một nhóm kinh, gọi là Tương ưng Vangīsa (Vangīsa saṃyutta) ghi nhận về trường hợp Tỳ-kheo Vangīsa dùng thi kệ (gāthā) để tán thán Đức Phật, tán thán sự chứng ngộ của Thánh Tăng cũng như khuyến khích sự tu tập. Do những bài thi tán của ngài Vangīsa có nội dung đúng Chánh pháp (dhammika), là phương tiện (upāya) để ghi nhớ giáo pháp nhanh hơn, phù hợp với căn cơ của từng các nhân và đặc biệt là không trái giới luật nên được Đức Phật cho phép. Xem ra, việc trì tụng kinh điển cũng như thi tán về cuộc đời và giáo pháp của Đức Phật, và công hạnh của các bậc Thánh Tăng đã xuất hiện trong thời Phật tại thế.
Sau khi Phật diệt độ, truyền thống trì tụng kinh điển cũng như sáng tạo nên những áng văn ca ngợi cuộc đời Đức Phật và giáo pháp vẫn được nhiều bậc cao tăng tiếp tục thực hiện. Điều này được ngài Nghĩa Tịnh ghi nhận trong Nam hải ký quy nội pháp truyện. Tác phẩm này chuyển tải nhiều tư liệu lịch sử rất quý. Riêng về việc trì tụng kinh điển thì được khái quát trong một thuật ngữ Phật học cô động, gọi là Tụng Tam khải kinh (誦三啟經).
Thực tế, đây không phải là tên của một bài kinh mà là ba phần trình bày của một tiến trình nghi lễ. Phần thứ nhất là tán thán ba ngôi Tam bảo. Phần thứ hai là đọc tụng chánh kinh. Phần thứ ba là hồi hướng và phát nguyện. Đây là một cấu trúc nghi lễ với logic nội hàm chặt chẽ. Thứ nhất, bằng những phương tiện khác nhau mà ở đây là thông qua hình thức tán tụng, ngâm vịnh để khơi gợi xúc cảm tôn giáo. Theo tôn giáo học, xúc cảm tôn giáo là một yếu tố quan trọng trong nghi lễ. Trong hoạt động tôn giáo nói chung, nếu một nghi lễ mà thiếu vắng xúc cảm tôn giáo thì nghi lễ đó chưa thành tựu trọn vẹn. Trường hợp vua Ba-tư-nặc (勝光大王) khi đi ngang rừng Thệ-đa (逝多林), nghe Tỳ-kheo Thiện Hòa (善和苾芻) tụng kinh hay đã gợi lên một xúc cảm thánh thiện là minh chứng cho trường hợp này(4). Thứ hai, sau khi những xúc cảm tôn giáo được dấy khởi và lắng dịu, một hình thức an định của thân và tâm, thì đi vào phần hai, tức là trì tụng chánh kinh. Chánh kinh của nghi lễ này có thể tùy duyên thay đổi. Nếu nội dung của nghi lễ liên quan đến tang nghi thì bài kinh Vô thường là bài kinh chính thức được trì tụng ở phần này. Các nội dung cầu an và những yêu cầu tương tự cũng có thể thay đổi để phù hợp với nội dung chính của buổi lễ ấy. Phần thứ ba, là hồi hướng công đức và phát nguyện tu hành.
Nam hải ký quy nội pháp truyện ghi:
Đầu tiên [tụng] khoảng chừng mười bài kệ, dựa theo ý kinh mà tán thán Tam bảo. Tiếp đó là đọc tụng chánh văn kinh, là lời do chính Đức Phật giảng nói. Tụng đọc xong, lại trình bày hơn mười bài kệ nữa, nói về hồi hướng và phát nguyện. Vì chia làm ba tiết đoạn nên gọi là Tam khải(5).
Tụng Tam khải kinh (誦三啟經) với những quy định cụ thể được trình bày chi tiết trong Luật tạng của Nhất thiết hữu bộ (一切有部)(6). Ngay như việc đốn hạ một cây cổ thụ để làm tịnh thất thì Luật tạng còn quy định rằng, trước đó khoảng bảy đến tám ngày thực hiện một số quy định và còn phải trì tụng Tam khải kinh (誦三啟經). Có thể nói, cấu trúc Tam Khải kinh được Phật giáo của Nam truyền và Bắc truyền tiếp nhận và vận dụng. Ngày nay, hình thức này có thể thấy rõ trong diễn trình nghi lễ của Phật giáo Bắc truyền, dù thực hiện bất kỳ nghi lễ nào. Đó là phần tán thán Tam bảo thể hiện qua rất nhiều bài tán. Sau đó là trì tụng bản kinh chính thức của buổi lễ và cuối cùng là hồi hướng và tự quy y.
Như vậy, trong thời Đức Phật, việc trì tụng kinh điển vốn đã xuất hiện, các giai đoạn của một tiến trình lễ nghi đã được xác lập và từng bước kiện toàn. Vậy thì ở đây, trong mùa Phật đản nói chung thì chúng ta phải tụng kinh gì để gọi là thuận hợp?
Căn cứ vào lịch sử Phật giáo, việc tổ chức các sự kiện liên quan đến cuộc đời Đức Phật như đản sinh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết-bàn được thiết lập và định hình về sau. Thế nên không có một bài kinh chuyên biệt dành riêng cho những sự kiện này. Mặc dù vậy, với ý niệm tôn kính Đức Thế Tôn, các bậc cao tăng trong Phật giáo đã tùy theo thực tiễn lịch sử mà thiết định những nghi quy và gợi ý những bài kinh cần trì tụng, để kỷ niệm ngày đản sinh của Ngài.
Sinh thời, Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang (1923-2019) đã chỉ dạy cho Tăng chúng tu viện Quảng Hương Già Lam rằng, mùa Phật đản, nên trì tụng kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm Như Lai thọ lượng. Lời dạy đó vẫn được chư tôn đức tại tu viện này nghiêm túc thực hiện, mãi cho đến hôm nay.
Riêng bản thân người viết, sau khi khảo sát các hình thức tổ chức Đại lễ Phật đản trong lịch sử, từ Ấn Độ, Trung Hoa cho đến Việt Nam thì thấy rằng, phần lớn sự kiện này tập trung chủ yếu vào các hình thức thuyết giảng, nghi lễ và những hoạt động văn hóa như Hành tượng (行像), là thể thức diễu hành xe hoa, cung rước tượng đản sinh… Nhìn chung, theo cảm nhận của riêng người viết, lễ hội Đản sinh dường như chú trọng quá nhiều về các hoạt động văn hóa Phật giáo mà ít gia tâm vào việc trùng tuyên lời Phật dạy, hoặc trì tụng những bản kinh liên quan đến cuộc đời Đức Phật, những tác phẩm tán ca, ca ngợi những phẩm hạnh cao quý đặc thù của Đức Phật.
Trong tình hình thực tế, đã có rất nhiều bài kinh liên quan đến cuộc đời Đức Phật, đã có nhiều bản tán ca, ca ngợi những phẩm tính siêu xuất của Đức Phật đã được dịch sang tiếng Việt. Do vậy nên chăng, chúng ta có thể mạnh dạn lựa chọn những bài kinh phù hợp với sự kiện Đản sinh để trì tụng trong mùa Phật đản.
Bước đầu, người viết cung kính đề nghị những bản kinh sau, có thể dùng để trì tụng trong tuần lễ Phật đản mỗi tối tại các chùa hay tại tư gia Phật tử:
Các bản kinh thuộc văn hệ Nikāya:
Kinh Đại bổn (Mahāpadānasutta)
Kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinibbānasutta)
Các bản kinh thuộc văn hệ Hán ngữ:
Kinh Du hành (遊行經)
Kinh Đại Bổn (大本經)
Kinh Phổ diệu (普曜經)
Và một bài tán ca nổi tiếng của ngài Mã Minh (馬鳴) là Phật sở hành tán (佛所行讚).
Trong dự án Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam đã và đang thực hiện từ năm 2018, thì những bản kinh nêu trêu đều đã được dịch ra tiếng Việt.
Hai kinh Đại bổn và Đại Bát-niết-bàn do Hòa thượng Thích Minh Châu phiên dịch, nằm trong tập 1 của Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, ấn hành vào năm 2020.
Hai kinh Du hành và Đại bổn do Trung tâm dịch thuật Trí Tịnh phiên dịch, nằm trong tập 17 của Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, ấn hành vào năm 2022.
Kinh Phổ diệu và Phật sở hành tán do Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang phiên dịch, nằm trong tập 27 và 28 của Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, ấn hành vào năm 2024.
Có thể nói, những hoạt động trong mùa Phật đản tại Việt Nam trong mấy mươi năm gần đây đã có nhiều khởi sắc về nhiều mặt. Tuy nhiên, để lễ hội Phật đản đầy đủ ý nghĩa hơn thì việc tìm một đáp án khả dĩ cho câu hỏi “Mùa Phật đản nên tụng kinh gì?” cần được quan tâm, định hướng từ các cấp hữu quan của Giáo hội và sự chung tay góp sức của chư tôn thiền đức hữu tâm.
-------------
(1)Kinh Tương ưng bộ (S.10-I.209). Kinh ghi: Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha thức dậy khi đêm vừa mới sáng, đang tụng đọc pháp cú.
(2)Kinh Tăng chi bộ (A.8.82-IV. 338), kinh Puṇṇiya (Puṇṇiyasutta).
(3)Nam hải ký quy nội pháp truyện 南海寄歸內法傳 (T.54. 2125. 0204c03).
(4)Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự 根本說一切有部毘奈耶雜事 (T. 24. 1451.4. 0222a01).
(5)Nam hải ký quy nội pháp truyện 南海寄歸內法傳 (T. 54. 2125.4. 0227a14). Nguyên tác: 初可十頌許,取經意而讚歎三尊。次述正經,是佛親說。讀誦既了,更陳十餘頌,論迴向發願。節段三開,故云三啟.
(6)Xem, Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự 根本說一切有部毘奈耶雜事 (T. 24. 1451.4. 0223a29).
(NSGN 262)
