Tết xưa Tổ Giáng

Bài đăng trên giai phẩm Giác Ngộ Xuân Bính Ngọ - 2026 - Thiết kế: Phòng Mỹ thuật BGN/Tống Viết Diễn
Bài đăng trên giai phẩm Giác Ngộ Xuân Bính Ngọ - 2026 - Thiết kế: Phòng Mỹ thuật BGN/Tống Viết Diễn
0:00 / 0:00
0:00
GNO - Cuộc đời của Đức Đệ tam Pháp chủ - Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ (1917-2021) hòa trong dư âm kinh kệ ngân mãi không dứt. Với ngài, triết lý “dĩ nông vi thiền” không chỉ là lời dạy, mà là một đạo sống: gieo hạt là gieo tâm, cày ruộng là cày kinh, hái rau là hái đạo.

Người dân trong vùng tin rằng, khi ngài gieo hạt lúa, chính là lúc ngài gieo hạt Phật pháp vào đất trời.

Sinh thời, Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ (1917-2021) - Đệ tam Pháp chủ GHPGVN có bài thơ rất nổi tiếng: “Cỗ Tết nhà chùa”:

“Nhà chùa Tết nhất nghĩ mà vui/ Lộc Phật ban cho đủ mọi mùi/ Giò thủ Lăng nghiêm, Viên giác bánh/ Chè Ba-la-mật, Pháp hoa xôi/ Kìa mâm Bảo tích, bày trăm vị/ Nọ đũa Kim cương sắp bốn đôi/ Trải chiếu Luật nghi nhà trượng thất/ Bạn cao tăng đến thỉnh lên ngồi”.

Tìm hiểu về sự ra đời của thi phẩm độc đáo này, tôi tìm đến Thượng tọa Thích Tiến Đạt, người được coi là “Trưởng pháp tử” của Đại lão Hòa thượng. Thượng tọa Tiến Đạt chia sẻ: Chùa Giáng (dân gian nhiều người gọi là chùa Ráng) tự trồng lúa tẻ lấy gạo ăn hàng ngày, ngoài ra trồng một ít lúa nếp để đến Tết gói bánh chưng chay, đồ xôi, nấu chè… cúng Phật.

Thiết kế: Hoa Đạo

Thiết kế: Hoa Đạo

“Mâm cỗ Tết” siêu thực của nhà chùa

Tết năm 1983, do trước đó mất mùa lúa, gạo tẻ đã không đủ ăn. Chiều 29 Tết năm ấy, gió từ bãi sông thổi về, mang theo cái lạnh khô hanh và hương khói bảng lảng trên mái chùa Giáng cũ kỹ. Bồ thóc rỗng, chẳng còn một hạt nếp nào. Trên bàn gỗ nhỏ, chỉ có bát muối trắng, mấy bẹ cải bắp xanh mờ trong ánh đèn dầu chập chờn.

“Tôi thoáng buồn, mà mắt Thầy thì vẫn lặng như mặt nước, như biết trước mọi thăng trầm đều chỉ là mây trôi qua đỉnh núi. Đêm trừ tịch đã cận kề mà không thấy Thầy chuẩn bị gì cho Tết. Tôi hỏi Thầy rằng có nấu xôi, chè, làm bánh chưng không? Hòa thượng bảo: Thôi! Ngày thường ăn thế nào, thì Tết nhất cũng thế thôi, mùng Một Tết có cơm ăn với muối trắng, rau cải bắp luộc là tốt rồi”, Thượng tọa Thích Tiến Đạt ngậm ngùi kể.

Thế rồi, như một phép mầu, Hòa thượng bảo: “Đem giấy bút vào đây”. Trong gian buồng tối, lời kinh trầm bổng như tiếng chuông vọng đến từ sông Hồng, Hòa thượng đọc chậm rãi từng câu thơ, để đệ tử Tiến Đạt chép xuống, như thể đang gọi mời một mùa xuân khác bước vào. Giò thủ hóa thân thành kinh Lăng nghiêm, bánh chưng thành kinh Viên giác, xôi thành kinh Pháp hoa, chè thành kinh Ba-la-mật. Trên mâm tưởng tượng, Bảo tích sáng ngời như ngọc, đũa Kim cương đặt bốn đôi, chiếu Luật nghi trải đều trong hư không, và quanh bàn, bóng dáng các bậc cao tăng chập chờn như khói hương đến ngồi cùng.

“Tết ấy, không có bánh chưng, không có chè xôi, mà cõi lòng vẫn tràn đầy hương vị. Vì từng trang kinh đã hóa thành thực phẩm nuôi thân, nuôi tâm. Bữa tiệc siêu thực ấy, chẳng cần mâm cao cỗ đầy, mà vẫn hiển hiện như yến hội của chư thiên. Và tôi hiểu, trong sự thiếu thốn cùng cực của vật chất, ánh sáng của đạo lại tỏa rạng, nhắc nhở rằng cái đủ đầy đích thực chỉ hiện hữu nơi tuệ giác”, Thượng tọa Thích Tiến Đạt chia sẻ.

Ấn tượng đầu tiên về Hòa thượng Phổ Tuệ, bậc Tổ Giáng uyên áo, là dáng người gầy guộc như thân trúc già trong gió. Đôi mắt ngài tinh anh như sao mai, trong suốt như hồ nước buổi sớm, vừa nghiêm nghị vừa chan chứa từ bi. Cái nhìn ấy khiến người đối diện như soi thấy cả nỗi trần lao trong tâm mình, nhưng đồng thời cũng được vỗ về bằng sự thân thiện bao dung.

Trong khuôn viên trầm mặc của chùa Đại Từ Ân, tôi được nghe câu chuyện do Thượng tọa Thích Tiến Đạt kể, như một khúc kinh xưa cũ, về những năm tháng đầu đời tu học, khi còn là chú tiểu non trẻ trong mái chùa Võ Lăng. Ngày ấy, Thầy Tổ - cố Trưởng lão Hòa thượng Võ Lăng, với dáng uy nghiêm mà hiền hòa, bảo rằng: “Tu học phải như cánh chim ra khỏi tổ, mở rộng đôi cánh để đón gió. Ở đất Hà Tây này, chẳng ai hơn được cụ Giáng. Con phải đến đó mà cầu học”. Lời dặn ấy vang lên như tiếng chuông chiều ngân vọng, mở ra một cánh cửa.

Một buổi sớm mai, hai thầy trò đạp xe trên con đường đồng hun hút, lúa xanh rập rờn như sóng, gió thổi qua đồng làm vang lên nhịp điệu ngàn xưa. Bánh xe lăn áp vào khung xe mòn kêu ken két trên lối đất nhỏ, đưa bước chân người học đạo đến miền Phú Xuyên, nơi ngôi chùa Giáng ẩn hiện trong sương lam khói phủ. Ấn tượng đầu tiên về Hòa thượng Phổ Tuệ, bậc Tổ Giáng uyên áo, là dáng người gầy guộc như thân trúc già trong gió. Đôi mắt ngài tinh anh như sao mai, trong suốt như hồ nước buổi sớm, vừa nghiêm nghị vừa chan chứa từ bi. Cái nhìn ấy khiến người đối diện như soi thấy cả nỗi trần lao trong tâm mình, nhưng đồng thời cũng được vỗ về bằng sự thân thiện bao dung.

Nghe Hòa thượng Võ Lăng ngỏ lời gửi gắm đệ tử, Tổ Giáng mỉm cười hiền hòa, rồi chậm rãi cất lời như gió thổi qua lá trúc: “Cổ giả thánh hiền dịch tử nhi giáo”. Lời ấy vang lên tựa pháp ngữ từ ngàn xưa, nhắc rằng bậc Thánh hiền vốn trao đổi con cái cho nhau để rèn luyện. Và thế là, dưới tán chùa Giáng một cánh cửa mới mở ra cho người học trò trẻ tuổi ở lại chấp tác, tu học, bắt đầu hành trình thấm đẫm thiền vị dưới bóng Tổ, như giọt sương được cất giữ trong lòng sen, lung linh mà bất tận.

Tết chùa - Ảnh: Đại Từ Ân

Tết chùa - Ảnh: Đại Từ Ân

Khi ruộng lúa cũng là “đạo tràng”

Trong ký ức Thượng tọa Tiến Đạt, chùa Giáng hiện lên như một cõi đạo vừa thực vừa mộng. Con đường đồng dẫn vào cổng chùa khi hoàng hôn buông xuống rực lên sắc đỏ nhạt của ráng chiều, như ngọn đèn lồng của trời đất treo trên lưng ruộng. Những bức tường rêu phủ không chỉ là gạch đá, mà như những trang kinh cổ ẩn giấu bao lớp huyền thoại. Tiếng chuông chùa ngân vang, không rơi vào tai người mà như nhỏ giọt vào mạch đất, chảy xuyên qua hồn tre, hồn trúc. Sương từ bờ ao làng bò chậm rãi vào sân chùa, bọc lấy mái ngói cong như vòng tay người. Mỗi viên gạch nơi bậc thềm, mỗi chiếc lá rụng trên sân đều như in dấu bước chân của người xưa, của bao thế hệ thiền giả đã hòa thân vào dòng pháp. Chùa Giáng, trong ký ức ấy, không còn chỉ là một ngôi già-lam, mà là một đạo tràng huyền mặc, nơi trời, đất, sương, và lòng người quyện lại thành một bức tranh Phật quốc giữa nhân gian.

“Tôi gọi Hòa thượng Phổ Tuệ là cha, bởi trong từng con chữ Hán cổ, từng hơi thở thiền định, tôi thấy dáng dấp một người cha vừa nghiêm nghị vừa từ hòa. Ban ngày trên ruộng, Thầy vừa cày, vừa giảng, tiếng nói vang nhịp cùng tiếng trâu kéo lưỡi cày xới đất. Cuộc đời Hòa thượng Phổ Tuệ là sự song tu giữa Thiền và Tịnh. Trong gian buồng nhỏ, ngài thường lặng lẽ ngồi thiền. Khách đến, nếu ngài chưa xả thiền, đệ tử cũng không dám quấy động. Chỉ khi nghe tiếng hắng giọng nhẹ như gió lay, người ta mới biết ngài đã ra khỏi định. Hôm nào ngài cũng thức từ nửa đêm đến tinh mơ, chữ nghĩa chảy ra thành dòng, hòa cùng tiếng dế gáy, tiếng gió đêm quẩn trong mái ngói cong”, Thượng tọa Tiến Đạt bộc bạch.

Thượng tọa Thích Tiến Đạt (thứ hai từ trái sang) cùng chư tôn đức trong câu chuyện thiền môn - Ảnh: Minh Thành
Thượng tọa Thích Tiến Đạt (thứ hai từ trái sang) cùng chư tôn đức trong câu chuyện thiền môn - Ảnh: Minh Thành

Chùa Giáng khi ấy không có khách hành hương lễ bái, chỉ có đồng lúa bốn bề như một biển thiền, rau xanh thẳng tắp như dòng kinh pháp, những con trâu, con bò ung dung gặm cỏ cũng hóa thành pháp khí. Cái nghèo thanh tịnh, cái khó ung dung, đã biến từng công việc cày cấy, gánh nước, trồng rau thành một bài học vô ngôn. Thầy trò âm thầm sống đời “dĩ nông vi thiền”, lấy ruộng đồng làm pháp đường, lấy lao tác làm kinh kệ, lấy tiếng gà gáy sớm làm hiệu lệnh khai kinh.

Mỗi ngày ở chùa Giáng đều trôi qua như vòng luân hồi, chậm rãi mà miên viễn, mỗi khoảnh khắc đều thấm đẫm đạo vị. Buổi sáng, khi gà vừa cất tiếng gáy, sương trắng còn phủ mềm trên mái ngói, Thầy và trò đã đứng nơi Tam bảo. Tiếng chuông ngân vang như vẽ lên bầu trời những vòng tròn thanh tịnh, tiếng mõ gõ nhịp cho đất trời thức dậy.

Ngài nói: Không xây được chùa, thì chỉ cần có ngọn đèn, nén nhang cúng Phật. Và ta bỗng thấy trước mắt hiện ra một cảnh giới siêu thực: giữa đêm sâu, ngọn đèn dầu run rẩy như một vì sao neo lại giữa cõi trần, hương trầm mảnh mai như sợi khói vẽ đường nối từ đất tới trời. Người ta có cảm giác chỉ cần chạm tay vào làn khói ấy, đã có thể chạm vào nhịp thở của mười phương chư Phật.

Khi nắng rót vàng cả cánh đồng, ngài cùng trò lội ruộng, bàn chân lấm bùn mà như đi trên mây, tay cày sâu đất mà như vẽ ra những đường kinh văn trên trang giấy vô hình bằng đường cày thẳng tắp. Câu hỏi về giáo lý vang lên giữa đồng, câu đáp của Thầy trôi cùng tiếng gió, hòa tan vào thửa ruộng. Chữ nghĩa không nằm trong sách, mà ẩn mình trong hạt thóc, trong bông lúa, trong mồ hôi rơi xuống đất.

Đêm đến, chùa Giáng trở lại tịch mịch. Ngọn đèn dầu hắt ánh sáng vàng lên vách gỗ cũ, bóng Thầy nghiêng trên trang sách như một ngọn núi cô tịch soi rọi chính mình. Ngài thức từ nửa đêm đến tinh sương. Ngài viết sách, ngài soạn kinh, đôi khi ngẩng đầu như đối thoại cùng mười phương chư Phật. Ngoài kia, tiếng gió luồn qua mái ngói, tiếng dế hát bản ca trường cửu, tất cả hòa cùng tiếng bút sột soạt lướt trên trang giấy, như dệt nên một bức tranh vừa hư vừa thực, như bản nhạc cổ xưa ngân dài từ kiếp này sang kiếp khác.

Ngài bảo: Xưa kia, Đức Phật ôm bát đi trong nhân gian, sống bằng từng hạt cơm khất thực, nuôi thân mà cũng nuôi đạo. Nhưng đất Việt đã lâu ngày thành tựu một nếp khác, Tổ xưa dựng tùng lâm, dạy rằng: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Thế nên, mỗi giọt mồ hôi rơi xuống đồng ruộng chẳng chỉ để đổi lấy hạt gạo, mà như một dòng chú nguyện gieo vào lòng đất. Ngài dạy: Ăn của tín thí mà không tu, ấy là gánh nặng tội lỗi; còn tự tay cày cấy, thì cơm rau dẫu đạm bạc cũng sáng như ngọc, thơm như hương sen mới nở.

Ngài nói: “Không xây được chùa, thì chỉ cần có ngọn đèn, nén nhang cúng Phật”. Và ta bỗng thấy trước mắt hiện ra một cảnh giới siêu thực: giữa đêm sâu, ngọn đèn dầu run rẩy như một vì sao neo lại giữa cõi trần, hương trầm mảnh mai như sợi khói vẽ đường nối từ đất tới trời. Người ta có cảm giác chỉ cần chạm tay vào làn khói ấy, đã có thể chạm vào nhịp thở của mười phương chư Phật.

Ngôi chùa khiêm nhường, chỉ giữ lại Tam bảo rêu phong và mấy gian nhà Tổ cũ kỹ phía sau. Hai đầu nhà là hai gian buồng nhỏ. Một bên, Hòa thượng Phổ Tuệ nghỉ ngơi trên chiếc phản gỗ đã mục mòn theo năm tháng; một bên, là kho thóc và chiếc chiếu trải ngay bên cót lúa, nơi đệ tử Tiến Đạt đêm đêm gối đầu vào hơi thở của mùa màng. Mùa đông rét cắt da cắt thịt, không chăn, không chiếu, Thầy trò lấy rơm và lá chuối làm nệm, rồi chui vào chiếc bao tải thóc đã giặt sạch, kéo lên ngang ngực. Những chiều đông giá buốt, bàn chân tím bầm, vẫn phải lội ao hái rau cần, bùn lạnh quấn lấy từng ngón chân như thử thách kiên tâm.

Có những mùa xuân về chùa Giáng, hoa trong vườn chẳng kịp nở, Thầy trò lại tự tay cắt giấy, gấp thành từng đóa hoa sen, hoa cúc, hoa đào. Mỗi cánh giấy rung rinh trong gió, như có linh hồn, như đã hút vào mình cả hương vị đất trời để dâng lên Phật. Trong gian Tam bảo giản dị, những đóa hoa giấy tỏa sáng huyền ảo, chẳng khác chi hoa thật nở từ cõi mộng. Những bông hoa giấy, do bàn tay run run của thầy trò gấp nắn trong đêm đông, đâu chỉ là mảnh giấy tầm thường mà như cánh sen từ vô niệm, rực sáng giữa hư không.

Một đời đau đáu với kinh sách

Lúc tại thế, Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ từng thở dài: “Xưa kia, kinh sách có mười phần, nay chỉ còn lại hai phần”. Những năm 1946-1947, giặc Pháp bắn phá, chùa Giáng đổ nát, ván in kinh vùi trong đất. Sau hòa bình, ngài lặng lẽ đào lên: tấm cháy, tấm còn. Rồi những năm vỡ đê, nước tràn vào chùa, kinh sách ướt sũng, ván in bị mối xông. Lại có những giai đoạn phong trào bài trừ chữ Nho nổi lên, kinh sách bị coi là sản phẩm của phong kiến, phải đem tiêu hủy.

Thượng tọa Thích Tiến Đạt kể lại, có thời chính quyền địa phương truy tìm tịch thu sách chữ Nho. Hòa thượng Phổ Tuệ coi kinh quý hơn cả mạng sống. Đêm khuya, hai Thầy trò ôm bao sách và những tấm ván in cũ kỹ, len lén rời khỏi làng. Băng qua cánh đồng mịt mờ sương gió, gặp bọn cướp chặn đường. Chúng tưởng trong bao là vàng bạc, liền xé tung. Nhưng khi thấy chỉ toàn ván gỗ mục và sách chữ Nho, chúng buông lời mắng chửi: “Những thứ này giữ làm gì?”. Ngài lặng im, ôm lại những tấm ván, như ôm cả hồn kinh Phật.

Đức Đệ tam Pháp chủ - Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ với Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quảng tại tổ đình Viên Minh - Ảnh: Hoàng Độ
Đức Đệ tam Pháp chủ - Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ với Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quảng tại tổ đình Viên Minh - Ảnh: Hoàng Độ

Xưa kia, Đại lão Hòa thượng Phổ Tuệ lặng lẽ ẩn tu, như ngọn núi ẩn mình trong mây. Ít ai biết được sở học thâm sâu của ngài. Bộ sách đầu tiên ngài viết là sách “Bát-nhã dư âm” vang lên như hồi chuông ngân trong cõi lặng. Vào những năm 1980, khi đọc bản thảo ấy, bà Thanh Linh, biên tập viên tạp chí Nghiên cứu Phật học, đã xin được chỉnh sửa để lần lượt giới thiệu trên tạp chí, như gieo những hạt giống trí tuệ vào đời. Ngày ấy, chư tôn đức Trung ương GHPGVN nhiều lần tìm đến tổ đình Viên Minh, tha thiết mời ngài tham gia Phật sự. Nhưng Hòa thượng lắc đầu. Ngài nói, việc hành chính vốn không dự phần, chỉ nguyện một lòng nghiên cứu Phật pháp và giảng dạy. Rồi khi Giáo hội mở trường đào tạo Tăng Ni tại chùa Quán Sứ (tiền thân của Học viện Phật giáo Việt Nam sau này), ngài mới bước ra giảng dạy. Từ đó, tiếng giảng của Ngài vang vọng nơi giảng đường, mà vẫn giữ nguyên mạch nguồn tịch tĩnh.

Hòa thượng Kim Cương Tử mời ngài tham gia Hội đồng biên dịch Đại tạng kinh. Từ đây, con đường phiên dịch của ngài bắt đầu rộng mở, nhưng gốc rễ vẫn là chùa Giáng, nơi ngọn đèn dầu nhỏ bé sáng qua những đêm dài. Thầy trò không có điện, chỉ ánh khói mờ đèn bấc. Ngài có thói quen chợp mắt sớm, rồi nửa đêm tỉnh dậy, khi làng quê chìm trong tĩnh mịch, để cặm cụi viết sách, dịch kinh. Trong sự yên lặng của đất trời, từng con chữ rơi xuống như hạt sương trên lá.

“Bát-nhã dư âm”, “Pháp hoa đề cương”, “Phật học là Tuệ học” là ba tác phẩm tiêu biểu như ba nhánh của một cội cây trí tuệ, thấm nhuần sở học sở tu của ngài. Ngài làm Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Phật học, tham gia Hội đồng biên dịch Đại tạng kinh, Luật tạng. Tiếc rằng bản dịch bộ Đại Luật khi xưa, mới chỉ in được mười lăm tập, còn bốn mươi lăm tập nữa thất lạc nơi nào, như cánh chim bay vào hư không.

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Hòa thượng Thích Thiện Minh, Phó Trưởng ban Tăng sự GHPGVN TP.HCM đặc trách Bắc tông, nguyên Trưởng ban Trị sự GHPGVN TP.Thủ Đức (cũ) - Ảnh: Nguyện Truyền/BGN

Hòa thượng Thích Thiện Minh: "Tùy duyên hội nhập nhưng cốt tủy phải giữ vững đạo tâm"

GNO - Nhân Đại hội đại biểu Phật giáo TP.HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031, Hòa thượng Thích Thiện Minh, Phó Trưởng ban Tăng sự GHPGVN TP.HCM đặc trách Bắc tông - một trong những vị giáo phẩm thâm niên đã gắn bó cùng Phật giáo Thành phố từ những ngày đầu thành lập đã dành những chia sẻ đầy tâm huyết với Báo Giác Ngộ.
Thượng tọa Thích Minh Quang, Ủy viên Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, trụ trì tổ đình Vạn Thọ - Ảnh: Quảng Đạo/BGN

Thượng tọa Thích Minh Quang: "Phát huy sức mạnh nguồn lực Tăng Ni và tự viện là điều Ban Trị sự cần ưu tư"

GNO - TP.HCM sau khi hợp nhất với 2 tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương, nâng số lượng Tăng Ni lên 11.550 vị và 2.329 cơ sở tự viện. Con số này không chỉ nói lên quy mô, tầm vóc của một trung tâm Phật giáo lớn trên cả nước mà còn đặt ra một ưu tư đó là làm sao để phát huy nguồn lực đó một cách hiệu quả nhất.

Thông tin hàng ngày