Bước đầu tìm hiểu về Minh Vương

Bất Động Minh vương/Acala tại chùa Răng Phật và bảo tàng (Phố người Hoa, Singapore)
Bất Động Minh vương/Acala tại chùa Răng Phật và bảo tàng (Phố người Hoa, Singapore)
NSGN - Minh vương (Phạn: Vidyaraja, Trung: 明王, bính âm: Mingwang, Nhật: Myoo, Hàn: Myongwang), còn gọi: Quang vương, Trì Minh vương, Mật Trí Minh vương, Phẫn Nộ Tôn, Oai Nộ vương. Ở Nhật, họ cũng được gọi là Daison Myoo (Đại Tôn Minh vương) (1).

(Trong khi tên gọi Phạn ngữ được dịch theo nghĩa đen như là “(các) vị Minh vương/vị vua uyên thâm tri thức”, thuật ngữ Vidya trong Phật giáo Kim cương thừa cũng được sử dụng cụ thể để biểu thị những câu chân ngôn(2); do đó thuật ngữ này cũng có thể được gọi là “(các) vị vua chân ngôn”(3). Vidya được dịch sang tiếng Trung Quốc với ký tự 明/minh (nghĩa đen: sáng chói, rạng rỡ; nghĩa bóng: kiến thức (am hiểu, am tường), trí tuệ, sáng suốt).

Chữ “minh” trong “Minh vương” có ý là “quang minh” (sáng chói), dùng trí tuệ sáng chói của Phật và Bồ-tát để phá vỡ phiền não nghiệp chướng của chúng sinh, do đó Ngài có tên là “Minh vương”. Quyển 13 của Chân ngụy tạp ký viết rằng: “Người được gọi là Minh bởi vì người ấy sáng chói, tức là trí tuệ chói sáng. Người hiện tướng phẫn nộ là vị chúa tể dùng sức mạnh của trí tuệ để phá vỡ phiền não nghiệp chướng, do đó có tên là Minh vương”.

Minh vương là một dạng biến hóa thân của Phật và Bồ-tát trong Mật tông. Các Ngài là một dạng thần hiện thân dáng vẻ uy đức giận dữ để giáo hóa chúng sinh, đặc biệt là những kẻ ngu dốt, tham lam(4).

Do đó, thuật ngữ Minh vương: Một là để chỉ cho vua của các chân ngôn đà-la-ni. Tiếng Phạn Vidya-raja, về mặt văn pháp là danh từ nam tính. Vì thế đây là chân ngôn thuộc nam tính. Oai lực của chân ngôn này có thể phá trừ các chướng nạn nên gọi là Minh vương như Phật đảnh nhất tự chân ngôn, là Minh vương của Phật bộ. Hai là để chỉ cho các tôn vị Minh vương trong Mật giáo, là Thân giáo lệnh luân trong 3 luân thân do đại trí của Như Lai hiển hiện. Trong Mật giáo, các tôn vị Minh vương vâng theo giáo lệnh của Đức Như Lai, hiện ra tướng phẫn nộ để hàng phục chúng sinh(5). Các Ngài có trí tuệ và oai đức, đem sức trí tuệ và sức oai đức của mình mà đánh giá hết thảy các ma chướng, ủng hộ các nhà tu hành chân thật(6).

Đối tác nữ của các vị Minh vương được biết đến như là Minh hậu (Phạn: Vidyarajni; Trung: 明 妃; bính âm: Mingfei; Nhật: Myohi).

Ngũ Đại Minh vương, theo chiều kim đồng hồ từ tay phải trên là Kim Cương Dạ-xoa Minh vương/Vajrayaksa, Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya, Quan Trà Lợi Minh vương/Kundali, Đại Uy Đức Minh vương/Yamataka và Bất động Minh vương/Acala ở trung tâm

Ngũ Đại Minh vương, theo chiều kim đồng hồ từ tay phải trên là Kim Cương Dạ-xoa Minh vương/Vajrayaksa, Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya, Quan Trà Lợi Minh vương/Kundali, Đại Uy Đức Minh vương/Yamataka và Bất động Minh vương/Acala ở trung tâm

1. Tổng quan về sự phát triển của tín niệm Minh vương

Vidyaraja, như tên gọi, ban đầu được quan niệm như những người bảo hộ và hiện thân của trí tuệ bí truyền (vidya), cụ thể là chân ngôn và đà-la-ni. Họ được coi là hiện thân của sức mạnh thần bí ẩn chứa bên trong những lời nói thiêng liêng này(7).

Vào giai đoạn đầu của Phật giáo Mật tông (Kim cương thừa), nhiều vị thần được biết đến như là các Vidyaraja (một thuật ngữ chỉ được sử dụng vào khoảng cuối thế kỷ VII-VIII(8)) chủ yếu được coi là thị giả của các vị Bồ-tát được khẩn cầu cho những mục đích cụ thể như loại bỏ bất hạnh và những trở ngại để giác ngộ. Họ nhân cách hóa một số thuộc tính nhất định của các vị Bồ-tát này như trí tuệ hoặc sức mạnh/quyền năng của giọng nói và được sắp xếp để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như tập hợp những chúng sinh hữu tình lại với nhau để Bồ-tát thuyết pháp, khuất phục các phần tử ngỗ nghịch hoặc bảo vệ các tín đồ của Phật giáo(9).

Cuối cùng, những vị thần này đã trở thành những đối tượng được sùng kính theo đúng nghĩa; không còn nhất thiết phải kết đôi với một vị Bồ-tát, họ được coi như là những biểu hiện của chính các vị Bồ-tát và/hoặc của các vị Phật, những vị được tin là mang những dạng thức phẫn nộ, đáng sợ như một phương tiện để cứu vớt những chúng sinh hữu tình vì lòng từ bi đối với chúng sinh(10).

Ở Ấn Độ và trong các điện thờ Ấn giáo, Minh vương được biểu thị như các vị vua phẫn nộ, với hình tướng dữ dội. Việc thờ phượng những Minh vương này được du nhập từ Trung Quốc vào Nhật Bản bởi các tín đồ của Chân ngôn tông (Shingon). Thoạt đầu được coi như những vị thần Mật tông, về sau hình tượng của họ được phổ biến trong dân chúng, có lẽ từ thế kỷ XIII. Các Tăng sĩ gán cho họ quyền năng bảo vệ cho con người chống lại những ảnh hưởng hắc ám đến từ Quỷ môn quan ở hướng Đông Bắc, theo tín ngưỡng cổ xưa của Trung Quốc.

Các vị Minh vương là những ông vua của huyền thuật tượng trưng quyền năng và sự chiến thắng của năm vị Ngũ trí Như Lai đối với những si mê và dục vọng. Đó là những lưu xuất phẫn nộ của Ngũ trí Như Lai và những trợ thủ của họ. Họ sở hữu tri thức và sức mạnh chứa đựng trong các chân ngôn. Những vị thần với hình tướng biểu hiện phẫn nộ này chứng minh sự phẫn nộ của lòng đại từ bi mang lại cho chúng sinh sự hỗ trợ của thiện pháp(11).

Ngoài ra, Minh vương còn là đồ tượng sáng tác theo nghi thức và giáo nghĩa Mật tông. Theo lý luận của Mật tông, chư Phật có thể hiện hóa thân làm ba dạng thân là: Tự tính luân thân, Chánh pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. Tự tính luân thân tức là pháp luân tự tính của chư Phật, đó chính là chân thân của chư Phật, nó như là Đại Nhật Như Lai, Phật Di Lặc... Chánh pháp luân thân là chư Phật vì muốn giáo hóa chúng sinh mà hiện hóa thành Bồ-tát thân để dùng Chánh pháp độ nhân, như Bồ-tát Hư Không Tạng, Bồ-tát Văn Thù... Giáo lệnh luân thân là Bồ-tát nhận giáo lệnh của Phật mà hóa thân thành hình tượng uy mãnh, phẫn nộ để hàng phục các tà ma. Nội dung phối trí cả ba loại luân thân của chư Phật trong các bản kinh có nhiều thuyết khác nhau. Ngoài ra, có một số kinh điển còn nói Bồ-tát lấy hai loại chuyển thân hiển hiện. Một là chư Phật, Bồ-tát do sở tu hành nguyện mà đắc chân thật báo thân, đây là Chánh pháp chuyển thân; hai là Phật, Bồ-tát lấy nguyện đại bi mà hiện thân dũng mãnh, giận dữ, đây là Giáo lệnh luân thân.

“Giáo lệnh” trong Giáo lệnh luân thân là chỉ sắc lệnh của các vị Phật như Đại Nhật Như Lai. Giáo lệnh của các Ngài rất kiên cố, có thể phá tan các thù hận, oán hờn, nó như vành xe báu của Chuyển luân vương. Dạng biến hóa thân này của Minh vương còn được gọi là Thân giáo lệnh luân. Minh vương còn có tính cách là sứ giả của Như Lai, trở thành một vị Bồ-tát là sứ giả Như Lai và những hành giả chuyên nói lời chân thật.

Thông thường nói đến Minh vương là chỉ loại Giáo lệnh luân thân, hiện hình tướng uy mãnh, giận dữ. Cho nên đặc điểm của tượng Minh vương là tướng giận dữ, trợn mắt nhăn mày rất đáng sợ. Nghe rằng chư Phật vì lòng thương chúng sinh nên đối với người thuận thì lấy thân mà khuyên, với người nghịch thì lấy nghịch mà chế ngự. Hiện tướng dữ dằn, đáng sợ để hàng phục chúng ma và tiêu trừ những ma chướng mà chúng sinh do vô minh dẫn đến tham, sân, si (3 điều nguy hại, Phật giáo gọi là “tam độc”). Chúng sinh đắm chìm trong tham, sân, si, một khi thấy hình tướng phẫn nộ đáng sợ này thì hốt nhiên tỉnh ngộ, phá mê chướng của tam độc, từ đó mà được giải thoát(12).

Bên cạnh đó, một tín niệm phổ biến trong truyền thống Nhật Bản được gọi là thuyết Sanrinjin (Tam luân thân), cho rằng năm vị Minh vương là những hóa thân phẫn nộ (kyoryorin-shin, nghĩa đen “hiện thân của Giáo lệnh luân thân”) của Ngũ trí Như Lai, đấng xuất hiện như những vị Bồ-tát dịu dàng giảng dạy giáo pháp bằng lòng từ bi và như những vịMinh vương phẫn nộ, người giảng dạy thông qua sự sợ hãi, khiến những người không tin tưởng vào tín niệm bị khích động(13).

Sự tiến triển của Minh vương sẽ được minh họa ở đây bởi vị thần Đại Uy Đức Minh vương (Yamantaka), một trong những vị thần phẫn nộ sớm nhất của Phật giáo. Trong tài liệu Manjusri-mula-kalpa vào thế kỷ VI, Đại Uy Đức Minh vương được miêu tả là người hầu cận trong phạm vi thề nguyện của Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, người tập hợp tất cả chúng sinh từ khắp nơi trên thế giới để nghe Đức Phật thuyết giảng và hóa độ những kẻ thù địch với Phật giáo; đồng thời, Đại Uy Đức Minh vương cũng là hiện thân đà-la-ni Văn Thù Sư Lợi, những lợi lạc đồng nhất với khả năng của Ngài(14). Ngài cũng thường được miêu tả trong tranh tượng cùng với Văn Thù Sư Lợi như một thị giả nhỏ bé giống với dạ-xoa (yaksha)(15).

Sau này, khi Đại Uy Đức Minh vương và các thuộc hạ tương tự của các vị Bồ-tát khác nhau (ví dụ như Hayagriva/Mã Đầu Minh vương, người được nối kết với Quán Thế Âm Bồ-tát) trở thành những vị thần hoàn toàn độc lập, họ bắt đầu được miêu tả và ngày càng có được các thuộc tính hình tượng cụ thể cho mỗi một vị. Ví dụ, Đại Uy Đức Minh vương thường được thể hiện với sáu đầu, tay, chân và cưỡi hoặc đứng trên một con trâu(16). Vị thế và công năng của những vị thần này đã chuyển từ các sứ giả nhỏ bé tập hợp lại cùng nhau và dọa dẫm những chúng sinh ngoan cố chuyển sang tham gia mật thiết vào nhiệm vụ chính yếu của Phật giáo Mật tông: chuyển hóa tham dục và vô minh (avidya) thành từ bi và trí tuệ(17).

Như một kết quả của sự phát triển này, mối quan hệ giữa Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi và Đại Uy Đức Minh vương đã được đặt vào một ngữ cảnh mới sao cho Đại Uy Đức Minh vương ngày nay được coi là hóa thân của chính Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi (như Manjusri-nama-samgiti)(18). Cuối cùng, theo cách giải thích trong Sanrinjin của Chân ngôn tông Nhật Bản, cả Yamantaka và Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi - dưới tên gọi “Vajratiksna” (Nhật: Kongori Bosatsu) - được xếp vào các hiện thân đại diện của Đức Phật A Di Đà.

Các vị Minh vương khác cũng theo một sự tiến triển ít nhiều tương tự. Ví dụ, Mã Đầu Minh vương (Hayagriva), ban đầu là hóa thân đầu ngựa của Thần Vishnu trong đạo Hindu, được đưa vào Phật giáo với tư cách là thị giả của Quán Thế Âm Bồ-tát (mặc dù không giống như Hayagriva của đạo Hindu, nhân vật Phật giáo không bao giờ được miêu tả với đầu ngựa, thay vào đó được miêu tả giống Đại Uy Đức Minh vương như một dạ-xoa, người có thể có một cái đầu ngựa nhỏ nhô ra từ tóc)(19).

Cuối cùng, khi Mã Đầu Minh vương ngày càng trở nên nổi bật, sự phân biệt giữa thần và thượng cấp trên ngày càng trở nên mờ nhạt để cuối cùng thần trở thành một trong nhiều dạng thức của Quán Thế Âm Bồ-tát ở cả Trung Quốc và Nhật Bản(20). Một trong những Minh vươngnổi tiếng hơn là Acala/Bất Động Minh vương (Acalanatha), ban đầu là một thuộc cấp hoặc sứ giả của Đức Phật Đại Nhật Như Lai trước khi thần được hiểu là khía cạnh phẫn nộ của Đại Nhật Như Lai hoặc Kyoryorin-shin trong truyền thống Nhật Bản(21). Trong khi đó, ở Nepal và Tây Tạng, thay vào đó, thần được nhìn nhận như là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi hoặc Đức Phật A Súc Bệ(22).

Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya tại chùa Răng Phật và bảo tàng (Phố người Hoa, Singapore)

Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya tại chùa Răng Phật và bảo tàng (Phố người Hoa, Singapore)

2. Hình tượng

Hình tượng về các vị thần phẫn nộ của Phật giáo thường được coi là bắt nguồn từ cả hình tượng dạ-xoa và hình tượng giáo phái Shaiva (giáo phái tôn thờ Thần Shiva của Hindu giáo), đặc biệt là từ các hình thức phẫn nộ của Thần Shiva trong đạo Hindu (ví dụ: Bhairava).

Những vị Minh vương thường có vẻ ngoài dữ tợn, với nước da màu xanh dương hoặc đen có nhiều đầu, tay và chân. Họ cầm nhiều loại pháp khí trong tay và đôi khi được trang trí với đầu lâu, da rắn hoặc da động vật và bao quanh bởi các ngọn lửa. Hào quang rực lửa này được thể hiện một cách biểu trưng là ngọn lửa thanh lọc người tu tập và biến những đam mê của một người thành tỉnh thức, gọi là “lửa định” (Nhật: kasho-zanmai)(23).

Một số Minh vương mang những thuộc tính phản ánh sự kình địch trong lịch sử giữa Hindu giáo và Phật giáo. Ví dụ, Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya được thể hiện là đánh bại và giẫm đạp lên Đại Tự Tại Thiên/Mahesvara và phối ngẫu của Ngài là Uma (Parvati)(24). Một nhận định trong Mahavairocana Tantra của nhà sư đời Đường Yi Xing cho rằng việc Đại Tự Tại Thiên (Ma-hê-thủ-la) thuần phục là một vị Minh vương khác, đó là Bất Động Minh vương (Acala). Bản thân Bất Động Minh vương đôi khi được cho thấy đang giẫm đạp lên một con quỷ/vị thần đầu voi có thể có chung một nguồn gốc với Ganesha Hindu được định danh là Vighnaraja (“Vị chúa tể của những chướng ngại vật”) trong mỹ thuật Tây Tạng.

3. Danh sách các vị Minh vương

Minh vương trong Mật tông có rất nhiều, thường thấy có Ngũ đại Minh vương, Bát đại Minh vương, Thập đại Minh vương. Danh xưng cụ thể của các Minh vương này trong kinh điển không giống nhau(25).

Ngoài những bộ Minh vương kể trên ra, cũng còn có nhiều hình tướng khủng khiếp khác, mặc dù ít quan trọng hơn, tuy vậy vẫn đóng một vai trò cốt yếu trong tranh tượng học Phật giáo và trong tín ngưỡng dân gian. Họ được phân loại dưới từ chung cho cả hai là Minh vương và được biểu thị trong nhiều mạn-đà-la khác nhau(26).

Ngũ Đại Minh vương, thế kỷ XII, Nhật Bản

Ngũ Đại Minh vương, thế kỷ XII, Nhật Bản

Ngũ đại Minh vương

Trong Phật giáo bí truyền ở Trung Quốc và Nhật Bản (Chân ngôn tông/Shingon và Thiên Thai tông/Tendai), Ngũ đại Minh vương (Nhật: Godai Myoo/Godai son; Trung: Wu Da Mingwang), cũng được biết như là Mật trí ngũ Minh vương, Ngũ hộ vương, Ngũ đại tôn,là một nhóm các Minh vương được coi vừa là những hóa thân phẫn nộ của Ngũ trí Như Lai vừa là những người bảo hộ học thuyết Phật giáo(27). Mỗi một người trong chư vị Minh vương này cũng tương ứng với bốn hướng (Bắc, Nam, Đông, Tây) và trung tâm của vũ trụ Phật giáo.

Mật trí ngũ Minh vương được thờ phượng như những vị thần riêng rẽ trong nhiều truyền thống Mật tông và thành nhóm năm vị chủ yếu nơi các trường phái Mật tông Nhật Bản. Mật trí ngũ Minh vương được thờ phượng phổ biến từ những vị thần Mật tông thành các hộ thần dân gian, chống lại những thế lực hắc ám. Ngoài ra, Mật trí ngũ Minh vương được miêu tả như những vị thần phẫn nộ với những bộ mặt giận dữ, nhe răng nanh ra và thường mang da thú với chuỗi đầu lâu. Họ mang vũ khí như gươm đao, cung tên để tiêu diệt những thế lực hắc ám và dục vọng tham sân si. Họ thường được bao quanh bởi những ngọn lửa mà chúng được tin có khả năng tiêu hủy mọi tà vọng. Các Minh vương được biểu thị hoặc như những đối tượng sùng bái riêng rẽ hoặc thành nhóm. Vì họ cốt yếu là những hữu thể mật nhiệm và những lưu xuất phẫn nộ từ Ngũ trí Như Lai, nên họ thường được thấy thành nhóm trong mạn-đà-la, ở đó họ thường được thể hiện ngồi trên tòa sen(28).

Ngũ đại Minh vương thường được xác định như sau:

- Bất Động Minh vương/Acala/Acalanatha (Nhật: Fudo Myoo; Trung: Budong Mingwang). Bất Động Minh vương còn được gọi là Bất Động Kim Cang, Bất Động Uy Nỗ Minh vương, Vô Động Tôn... Ngài là Minh vương hàng phục tất cả yêu ma. Bất Động Minh vương tượng trưng tính kiên định tâm linh và quyết tâm trừng ác(29).

Bất Động Minh vương là chủ tôn trong Ngũ đại Minh vương, là Thân giáo lệnh luân của Đại Nhật Như Lai. Ngài có khả năng hộ trì giáo lệnh của Đại Nhật Như Lai, liên kết với trung tâm. Hình tượng của Bất Động Minh vương là hình tượng đồng tử, tay phải cầm cây đao trí tuệ hay thanh gươm để đoạn trừ tam độc tham, sân, si; tay trái cầm dây thừng để bắt và trói tà ác; trên đầu có vấn tóc búi tó, tóc xoăn và dài đến vai trái, mắt trái hơi nhắm lại, hàm răng dưới thì cắn vào môi trên để biểu thị tướng phẫn nộ, hung dữ... Hình tượng của Ngài có hàm ý là hàng phục, dọa nạt ma quỷ và từ bi.

Do Bất Động Minh vương là Thân giáo lệnh luân của Đại Nhật Như Lai, là chủ tôn của Ngũ đại Minh vương, do đó trong pháp tu theo Mật tông, Ngài được sự sùng bái của đông đảo mọi người. Theo cách gọi thì Bất Động Minh vương không những có thể giúp những người tu tập đạt được những ước nguyện của mình, hơn thế nữa Ngài còn có thể tiêu trừ hạn hán, hàng phục được lũ trộm cắp, những oán thù trong mỗi gia đình và có cả công năng thu được tài phúc.

Bất Động Minh vương còn có tám đại đồng tử làm các thị vệ bên trái bên phải của mình. Họ gồm:

1. Đồng tử Huệ Quang

2. Đồng tử Huệ Hỷ

3. Đồng tử A Nậu Đạt

4. Đồng tử Trì Đức

5. Đồng tử Ô Câu Bà Ca

6. Tỳ-kheo Thanh Tịnh

7. Đồng tử Quan Hạt La

8. Đồng tử Chế Tra Ca

- Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya (Nhật: Gozanze Myoo; Trung: Xiangsanshi Mingwang). Hàng Tam Thế Minh vương còn được gọi là Thắng Thế, Kim Cang Thôi Phá, Phẫn Nộ Trì Minh vương... Minh vương hàng phục sự xâm hại Chánh pháp của Đại Tự Tại thiên ma(30). Trong năm Đại Minh vương, địa vị của Hàng Tam Thế Minh vương chỉ thấp hơn Bất Động Minh vương. Ngài là tôn giả phía Đông của Ngũ đại Minh vương, là Thân giáo lệnh luân của Phật A Súc Bệ (hay Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai(31) hoặc A Tung), liên kết với phía Đông. Ngài có khả năng hàng phục được tam độc (tham, sân, si) của tam thế là quá khứ, hiện tại, vị lai. Do đó, Ngài có tên là Hàng Tam Thế Minh vương.

Hình tượng của Hàng Tam Thế Minh vương có rất nhiều dạng như: ba mặt tám tay, bốn mặt tám tay, bốn mặt bốn tay, một mặt hai tay… Trên mặt có ba mắt, bên người có ngọn lửa. Ngài hiện tướng phẫn nộ, pháp khí Ngài giữ trong tay gồm có các loại như chuông ba cạnh, mũi tên, kiếm, kích ba ngạnh, cung, dây thừng, chân trái của Ngài thì đạp lên Đại Tự Tại Thiên/Shiva, chân phải thì dẫm lên Ô Ma Thiên Phi/Parvati, những biểu thị của dục vọng. Truyền thuyết nói rằng Đại Tự Tại Thiên tự coi mình là giáo chủ của tam thế, Ngài không hoàn toàn hàng phục, do đó Minh vương Hàng Tam Thế liền hiện tướng phẫn nộ để đe nẹt Ngài, và cũng từ đó lại có một thuyết là: Hàng Tam Thế là chỉ Đại Tự Tại Thiên - giáo chủ hàng phục được tam giới.

Công năng chủ yếu của tu hành theo pháp Minh vương Hàng Tam Thế là điều phục. Đặc biệt là có thể hàng phục được quỷ ma và chư thiên. Tương truyền rằng, nếu như ai trì tụng chân ngôn (lời chú) của Minh vương này thì các ma sẽ không gây chướng ngại nữa. Ấn khế của vị Minh vương này thì uy đức cũng giống như chân ngôn, lũ ma quỷ gây chướng ngại nếu như nhìn thấy ấn này trên tay thì sẽ lập tức tránh xa. Ngoài ra tu trì theo phương pháp này còn có những công đức như có thể đánh thắng trận, trừ được bệnh tật, được người yêu thích.

- Quân Trà Lợi Minh vương/Kundali/Amttakundalin (Nhật: Gundari Myoo; Trung: Juntuli Mingwang). Minh vương hàng phục tất cả a-tu-la, quỷ thần(32).

Quân Trà Lợi Minh vương là Thân giáo lệnh luân của Bảo Sinh Như Lai, liên kết với phương Nam. Quân Trà Lợi là dịch âm từ tiếng Phạn, ý nghĩa là “bình” (cái hũ, cái bình). Trong Mật tông Phật giáo, cái bình là trượng trưng của cam lồ, vị Minh vương này dùng từ bi làm phương tiện để tưới nước cam lồ gột rửa tâm cho chúng sinh, do đó Ngài còn được gọi là Cam Lồ Quân Trà Lợi Minh vương. Hơn nữa, Ngài có tướng là phẫn nộ, hình tượng thì giống như quỷ dạ-xoa, do đó Ngài còn có tên là Quân Trà Lợi Dạ-xoa Minh vương.

Quân Trà Lợi Minh vương có các bức tượng là: một mặt tám tay và bốn mặt bốn tay. Tượng một mặt tám tay trên đầu đội mũ có đầu lâu, trên mặt có ba mắt, mắt mở to, dáng vẻ vô cùng giận dữ, có hai con rắn quấn vòng xung quanh người, đầu rũ xuống trước ngực. Bốn khuôn mặt của tượng bốn mặt bốn tay đều có dáng vẻ rất khác nhau: mặt ở chính giữa thì từ bi, mặt bên phải thì phẫn nộ, mặt bên trái thì đang vui vẻ cười lớn, mặt phía sau thì mở to miệng có vẻ hơi giận dữ. Toàn thân là màu xanh của hoa sen, Ngài ngồi trên bàn đá. Tượng bốn mặt bốn tay tượng trưng cho bốn pháp là tịch diệt, hàng phục, kính ái và tăng trưởng lợi ích. Có một thuyết khác thì nói rằng đây chỉ bốn dạng gốc của phiền não là ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái.

Theo tương truyền, người nào tu theo pháp của Quân Trà Lợi Minh vương thì bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu đều được sự che chở của Quân Trà Lợi, nó còn trừ được các loại bệnh tật do rắn gây nên.

- Đại Uy Đức Minh vương/Yamantaka (Nhật: Daiitoku Myoo; Trung: Daweide Mingwang). Đại Uy Đức Minh vương còn được gọi là Đại Uy Đức phẫn nộ Minh vương, Hàng Diêm Ma Tôn, Diêm Mạn Đức Ca, Lục Túc Tôn, Lục Túc Kim Cang. Minh vương hàng phục tất cả giống rồng dữ làm tàn hại chúng sinh bằng cuồng phong bạo vũ(33). Đại Uy Đức Minh vương được thờ phượng phổ biến nhất, như một vị thần riêng ở vùng Hy Mã Lạp Sơn, như là kẻ hủy diệt Diêm vương và là người hàng phục tử thần(34).

Ngài là Thân giáo lệnh luân của Phật Vô Lượng Thọ hay A Di Đà, liên kết với phương Tây. Vị Minh vương này có đại uy đức là có thể điều khiển và hàng phục rắn độc, đoạn diệt tất cả ma chướng, hàng phục Diêm La Pháp vương.

Các bức tượng về Đại Uy Đức Minh vương thường thấy nhất là tượng ba mặt sáu tay và tượng sáu mặt, sáu tay, sáu chân. Ngài cưỡi con trâu màu đen, toàn thân Ngài cũng màu đen. Tay Ngài cầm các binh khí như cung, tên, dây thừng, chùy. Ngài đeo một chuỗi ngọc có hình đầu lâu. Ngài mặc chiếc váy bằng da hổ. Thân Ngài to cao, béo tròn, quanh người lửa cháy rừng rực. Trên mặt Ngài có ba con mắt, mắt tròn đỏ, mở to, lộ vẻ giận dữ, tóc dựng đứng trông như ngọn lửa. Ngài thể hiện một hình tướng vô cùng phẫn nộ, dáng vẻ trông rất đáng sợ.

Mật pháp của Đại Uy Đức Minh vương chủ yếu là tiêu trừ ma quỷ, nó thường được dùng trong thời chiến tranh để cầu mong thắng lợi và điều phục những kẻ ác.

Kim Cương Dạ-xoa Minh vương/Vajrayaksha/Vajrayaksa/Vajrasattva (Nhật: Kongoyasha Myoo; Trung: Jingang Yecha Mingwang). Kim Cương Dạ-xoa Minh vương còn được gọi là Kim Cang Dược-xoa, Kim Cương Tát Đóa Minh vương, Tịnh Thân Kim Cang, Kim Cang Đạm Thực, Kim Cang Tận. Minh vương hàng phục tất cả dạ-xoa đoạt tinh khí con người(35).

Ngài là Thân giáo lệnh luân của Bất Không Thành Tựu Như Lai, liên kết với phương Bắc trong phái Chân ngôn. Vị Minh vương này phát nguyện nuốt và tiêu trừ hết chúng sinh có hành động độc ác và tất cả những gì ô uế bẩn thỉu của tam thế, tiêu trừ tai nạn.

Kim Cang Dạ-xoa Minh vương phần nhiều là tướng ba mặt sáu tay. Nổi bật nhất là khuôn mặt chính giữa có năm con mắt mở to giận dữ, hai khuôn mặt bên trái và bên phải mỗi bên có ba con mắt. Vị Minh vương này cao to vô lượng, toàn thân lửa cháy hừng hực, trên tay cầm các pháp khí như chùy năm ngạnh, chuông kim cương, cung tên, vòng tròn bánh xe tượng trưng cho pháp hàng phục, cung và tên tượng trưng cho pháp kính ái, chuông và chùy tượng trưng cho dũng mãnh. Tu trì theo pháp của Kim Cang Dạ-xoa Minh vương là để điều phục và được tịch diệt.

- Uế Tích Kim Cương/Ucchuṣma (Nhật: Ususama Myoo; Trung: Wushushamo Mingwang) - liên kết với phương Bắc trong tông phái Thiên Thai.

Kim Cương Dạ-xoa Minh vương/Vajrayakṣa hoặc Uế Tích Kim Cương/Ucchuṣma

(phương Bắc)

Đại Uy Đức Minh vương/Yamāntaka

(phương Tây)

Bất Động Minh vương/Acala

(trung tâm)

Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya

(phương Đông)

Quân Trà Lợi Minh vương/Kuṇḍali

(phương Nam)

Theo lý luận của Mật tông, năm phương Như Lai (Thân tự tính luân) có thể hiện hóa thành năm Bồ-tát, còn có thể hiện thành năm Minh vương với dáng vẻ phẫn nộ hùng hổ (tức là Thân giáo lệnh luân). Kinh Liên hoa tam muội nói rằng: “Ba thân này là ba nghiệp (tức là tam mật) thân, khẩu, ý của Ngũ Phật, tức là thân mật của Như Lai, khẩu mật của Bồ-tát, ý mật của Minh vương. Còn về hệ thống sắp đặt ba loại thân này của chư Phật trong Mật tông, thì các kinh thư sắp đặt không giống nhau và cũng có những thuyết không giống nhau(36). Theo sự sắp xếp của Kim cang nghi quỹ thì:

Năm phương Như Lai

(Thân tự tính luân)

Năm Bồ-tát (Thân Chánh pháp luân)

Năm Đại Minh vương (Thân giáo lệnh luân)

Đại Nhật Như Lai

(ở chính giữa)

Bồ-tát Kim Cang Ba-la-mật

Minh vương Bất Động

A Súc Phật

(phía Đông)

Bồ-tát Kim Cang Thủ

Minh vương Giáng Tam Thế

Bảo Sinh Phật

(phía Nam)

Bồ-tát Kim Cang Bảo

Minh vương Quân Trà Lợi

Phật A Di Đà

(phía Tây)

Bồ-tát Kim Cang Lợi

Minh vương Lục Túc Tôn

Phật Bất Không Thành Tựu (phía Bắc)

Bồ-tát Kim Cang Dược-xoa (tức Minh vương Đại Uy Đức)

Minh vương Tịnh Thân (tức Minh vương Kim Cang Dạ-xoa)

Còn theo sự sắp xếp của Nhân vương kinh nghi quỹ là:

Năm phương Như Lai

(Thân tự tính luân)

Năm Bồ-tát

(Thân Chánh pháp luận)

Năm Đại Minh vương

(Thân Giáo lệnh luân)

Đại Nhật Như Lai

Bồ-tát Chuyển Pháp Luân

Minh vương Bất Động

Phật A Súc

Bồ-tát Phổ Hiền

Minh vương Giáng Tam Thế

Phật Bảo Sinh

Bồ-tát Hư Không Tạng

Minh vương Quân Trà Lợi

Phật A Di Dà

Bồ-tát Văn Thù

Minh vương Lục Tức Tồn

Phật Bất Không Thành Tựu

Bồ-tát Thôi Phục Nhất Thiết Na Oán

Minh vương Tịnh Thân

Ngoài ra, nghi lễ Phật giáo về năm trang thờ, nhằm bảo vệ quốc gia chống lại thiên tai địch họa, bao gồm việc dựng lên năm hình tượng của Ngũ đại Minh vương, được định vị phù hợp với các phương trời họ trấn giữ, với Bất động Minh vương ở trung tâm(37).

Ái Nhiễm Minh vương/Ragaraja (Aizen Myoo) thế kỷ XIII, Nhật Bản

Ái Nhiễm Minh vương/Ragaraja (Aizen Myoo) thế kỷ XIII, Nhật Bản

Bát đại Minh vương

Trong Phật giáo Trung Quốc, Bát đại Minh vương (bính âm: Ba da Mingwang), là một nhóm khác của các vị Minh vương được miêu tả trong tranh tượng. Nguồn kinh điển thừa nhận về nhóm tám vị này là Manjusri-mula-kalpa, bản dịch tiếng Trung của nó là nghĩa đen: “Quy định, lễ nghi cơ bản Văn Thù Sư Lợi” vào khoảng 980-1000 CN là do nhà sư Thiên Tức Tai/Tianxizai, người có thể là Tịch Thiên/Shantideva miền Bắc Ấn Độ(38). Mỗi vị Minh vương tương ứng với một trong Bát đại Bồ-tát trong Phật giáo Trung Quốc cũng như một phương vị cụ thể.

Bát đại Minh vương, với những ngoại lệ trong một số danh sách, thường được định rõ như sau:

- Bất Động Minh vương/Acala - biểu hiện của Trừ Cái Chướng Bồ-tát, liên kết với phía Đông Bắc.

- Quân Trà Lợi Minh vương/Minh vương Đại Tiếu/Kundali - biểu hiện của Hư Không Tạng Bồ-tát, liên kết với phía Tây Bắc.

- Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya - biểu hiện của Kim Cương Thủ Bồ-tát, liên kết với phía Đông Nam.

- Đại Luân Minh vương/Mahacakra (Trung: Dalun Mingwang) - hiện thân của Bồ-tát Di Lặc, liên kết với phương Tây Nam. Minh vương Đại Luân có pháp lực bài trừ hết mọi chướng ngại, bên tay phải cầm tám vòng kim cương, bên tay trái cầm chiếc chùy một ngạnh. Ngài ngồi trên đài hoa sen(39).

- Bộ Trịch Kim Cương Minh vương/Bộ Trịch Minh vương/Padanaksipa (Trung: Buzhi Mingwang) - hiện thân của Bồ-tát Phổ Hiền, gắn liền với phương Bắc. Theo ghi chép, Minh vương Bộ Trịnh có khả năng tế độ lục đạo. Ngài có sức mạnh giúp cho những kẻ tội phạm tìm thấy được Bồ-đề tâm của chính mình và hàng phục bầy quỷ ác.

- Vô Năng Thắng Minh vương/Aparajita (Trung: Wunengsheng Mingwang) - hiện thân của Bồ-tát Địa Tạng, liên kết với phương Nam. Theo tương truyền, Minh vương Vô Năng Thắng là hóa thân của Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca dùng thần lực của chính mình hiện hình tượng Minh vương vẻ phẫn nộ để hàng phục những chúng sinh đang bị ma chướng phiền não. Tướng phẫn nộ của Ngài có bốn tay, bốn mặt, trên mỗi khuôn mặt có ba con mắt, tay cầm chùy, kích, rìu.

- Đại Uy Đức Minh vương/Minh vương Lục Túc/Yamantaka - biểu hiện của Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, liên kết với phương Đông.

Mã Đầu Minh vương/Hayagriva (Trung Quốc: Matou Guanyin) - Hiện thân của Bồ-tát Quán Thế Âm, liên kết với phương Tây. Minh vương Mã Đầu tức là Quán Âm Đầu Ngựa, là một trong sáu Quán Âm của Mật tông. Theo ghi chép, Minh vương Mã Đầu có khả năng tiêu trừ hết mọi tai ách cho chúng sinh, trấn áp mọi sự giận dữ của chúng sinh để giữ chúng sinh được bình yên, cứu tất cả chúng sinh đang bị khổ nạn. Đặc điểm nổi bật nhất của vị Minh vương này là trên đầu có đội đầu con ngựa trắng, khuôn mặt lộ vẻ giận dữ. Các bức tượng của Ngài có dạng như tượng ba mặt tám tay, bốn mặt hai tay, tám mặt tám tay(40).

Quân Trà Lợi Minh vương/ Kundali

(Tây Bắc)

Bộ Trịch Kim Cương Minh vương/ Padanaksipa

(Bắc)

Bất Động Minh vương/ Acala

(Đông Bắc)

Mã Đầu Minh vương/ Hayagriva

(Tây)


Đại Uy Đức Minh vương/ Yamantaka

(Đông)

Đại Luân Minh vương/ Mahacakra

(Tây Nam)

Vô Năng Thắng Minh vương/ Aparajita

(Nam)

Hàng Tam Thế Minh vương/ Trailokyavijaya

(Đông Nam)

Tám Minh vương lớn là do tám Bồ-tát lớn của Mật tông chuyển hóa mà thành. Hệ thống sắp xếp tương ứng như sau:

Bồ-tát Kim Cang Thủ

- Minh vương Hàng Tam Thế

Bồ-tát Văn Thù

- Minh vương Đại Uy Đức

Bồ-tát Hư Không Tạng

- Minh vương Đại Tiếu

Bồ-tát Di Lặc

- Minh vương Đại Luân

Bồ-tát Quán Tự Tại

- Minh vương Đầu Ngựa

Bồ-tát Địa Tạng

- Minh vương Vô Năng Thắng

Bồ-tát Trừ Cái Chướng

- Minh vương Bất Động

Bồ-tát Phổ Hiền

- Minh vương Bộ Trịnh

Thập vị Minh vương

Một nhóm khác được tìm thấy trong một số mô tả của Trung Quốc là Thập đại Minh vương (Shi Da Mingwang). Trong Phật thuyết huyễn hóa võng đại du-già thập Phẫn Nộ Minh vương quán tưởng nghi quỹ kinh có chép danh xưng của 10 đại Minh vương. Ở Đại Túc, tỉnh Tứ Xuyên có điêu khắc tượng của 10 Đại Minh vương(41).

Thập vị Minh vương có nhiều nhóm khác nhau do việc xóa bỏ và bổ sung một số vị Minh vươngnhất định, cũng như gán các vị Minh vương này cho các vị Phật và Bồ-tát khác nhau. Trong thực hành tu tập Phật giáo Trung Quốc thời trung cổ và hiện đại, Thập vị Minh vương thường xuyên được thỉnh cầu trong các nghi lễ sám hối, chẳng hạn như Trai đàn Thủy lục, nơi các Ngài được dâng cúng và khẩn cầu xua đuổi yêu ma ra khỏi lễ đài.

Một phiên bản danh sách Thập vị Minh vương như sau(42):

- Bất Động Minh vương/Acala - biểu hiện của Trừ Cái Chướng Bồ-tát

- Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya - biểu hiện của Kim Cương Thủ Bồ-tát

- Đại Luân Minh vương/Mahacakra - biểu hiện của Di Lặc Bồ-tát

- Bộ Trịch Minh vương/Padanaksipa - biểu hiện của Phổ Hiền Bồ-tát

- Vô Năng Thắng Minh vương/Aparajita - biểu hiện của Địa Tạng Bồ-tát

- Đại Uy Đức Minh vương/Yamantaka - biểu hiện của A Di Đà

- Mã Đầu Minh vương/Hayagriva - biểu hiện của Quán Thế Âm Bồ-tát

- Đại Tiếu Minh vương/Vajrahasa (Trung Quốc: Daxiao Mingwang) - biểu hiện của Hư Không Tạng Bồ-tát

- Uế Tích Kim Cang Minh vương/Ucchuṣma (Trung: Huiji Jingang Mingwang, nghĩa đen “Uế Tích Kim Cang”) - biểu hiện của Thích Ca Mâu Ni

- Hỏa Đầu Kim Cang Minh vương/Ucchuṣma (?) (Trung: Huotou Jingang Mingwang, nghĩa đen: “Hỏa Trụ Kim Cương Thể”) - biểu hiện của Đại Nhật Như Lai

Một văn bản khác lại cho danh sách xác định Thập vị Minh vương với các vị Phật và Bồ-tát khác biệt như sau:

- Bất Động Minh vương/Acala - Trừ Cái Chướng Bồ-tát

- Quân Trà Lợi Minh vương/Kuṇḍali - A Di Đà

- Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya - Kim Cương Thủ Bồ-tát

- Đại Luân Minh vương/Mahacakra - Di Lặc

- Bộ Trịch Minh vương/Padanaksipa - Phổ Hiền

- Vô Năng Thắng Minh vương/Aparajita - Địa Tạng

- Đại Uy Đức Minh vương/Yamantaka - Văn Thù

- Mã Đầu Minh vương/Hayagriva - Quán Thế Âm

- Đại Tiếu Minh vương/Vajrahasa - Hư Không Tạng

- Uế Tích Kim Cang Minh vương/Mahabala (Trung: Dali Mingwang) - Thích Ca Mâu Ni

Tiêu biểu là tranh tường triều đại nhà Minh về Thập vị Minh vương trong ngôi chùa Dayun ở Hunyuan, Đại Đồng, Sơn Tây, Trung Quốc.

Mạn-đà-la Ái Nhiễm Minh vương, năm 1107, Nhật Bản, hiện vật Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York, Mỹ

Mạn-đà-la Ái Nhiễm Minh vương, năm 1107, Nhật Bản, hiện vật Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York, Mỹ

Những vị Minh vương khác

Ngoài các vị Minh vương kể trên, còn có những vị thần cũng mang danh hiệu Minh vương bao gồm:

- Ái Nhiễm Minh vương/Ragaraja (Trung: Airan Mingwang; Nhật: Aizen Myoo) - Một Minh vương được coi là chuyển hóa dục vọng trần tục và đam mê tình dục thành thức tỉnh tâm linh; biểu hiện của Bồ-tát Kim Cương Tát Đỏa và/hoặc Đức Phật Đại Nhật Như Lai.

- Đại Nguyên Soái Minh vương/Atavaka (Trung: Dayuanshuai Mingwang; Nhật: Daigensui Myoo hay Daigen Myoo) - một thị giả dạ-xoa của Đa Văn Thiên vương.

- Khổng Tước Minh vương/Mahamayuri (Trung: Kongque Mingwang ; Nhật: Kujaku Myoo) - Một Minh hậu; đôi khi cũng được xếp vào hàng Bồ-tát. Không giống như hầu hết các Minh vương khác, thần/nữ thần được miêu tả với một biểu hiện nhân từ.

- Mahakrodharaja (Trung: Dakewei Mingwang; Nhật: Daikai Myōō) - người hầu cận hoặc biểu hiện của Bất Không Quyến Sách Quán Âm (Trung Quốc: Bukong Juansuo Guanyin; Nhật Bản: Fuku Kensaku/Kenjaku Kannon), một trong những dạng thức của Quán Thế Âm Bồ-tát(43).

- Sadaksara (Trung: Liuzi Mingwang; Nhật: Rokuji Myoo) - một vị thần được tôn sùng của lễ nghi kinh Sadakara (Lục tự) (Nhật: Rokuji-kyo ho), một nghi thức khuất phục tập trung vào sáu biểu thị của Quán Thế Âm(44). Không giống với các vị Minh vương khác nhưng lại giống như Khổng Tước Minh vương, Ngài có vẻ mặt hiền từ của một vị Bồ-tát và được thể hiện với bốn hoặc sáu cánh tay và đứng trên một chân(45).

Trên đây là những tập hợp các Minh vương mà phổ biến là tập hợp năm vị, tám vị và mười vị. Nói chung, các tập hợp này vừa thống nhất vừa có sự sai biệt tùy theo các bản kinh văn khác nhau. Tuy nhiên, về chức năng các Minh vương đều là “Giáo lệnh luân thân” của chư Phật. Đây là “lực lượng thực thi” Phật pháp.

___________

(1)Theo:

- Louis Frederic (2005), Tranh tượng & thần phổ Phật giáo, NXB.Mỹ Thuật, tr.316-318.

- Meher McArthur (2005), Tìm hiểu mỹ thuật Phật giáo, NXB.Mỹ Thuật, tr.91-93.

(2)Toganoo, Shozui Makoto (1971), “The Symbol-System of Shingon Buddhism”, Tạp chí Phật giáo Mật tông - Mikkyō Bunka: 91, 86.

(3)Theo:

- Haneda, Shukai (2018), Fudō Myōō kara chikara o moraeru hon Daihōrinkaku xb, tr.25-27.

- Mack, Karen (2006), “The Phenomenon of Invoking Fudō for Pure Land Rebirth in Image and Text”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo của Nhật Bản, 33 (2): 297-317.

(4)Mã Thư Điền (2001), Các vị thần trong Phật giáo Trung Quốc, NXB.Văn hóa - Thông tin, tr.365-374.

(5)Thích Minh Cảnh (chủ biên), Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 5: L-M-N-NG, tr.4166-4167.

(6)Đoàn Trung Còn (2011), Phật học từ điển, NXB.Tổng Hợp TP.HCM, tr.697.

(7)Theo:

- Faure, Bernard (2015), The Fluid Pantheon: Gods of Medieval Japan, đại học Hawaii xb, tập 1, tr.116.

- Haneda, Shukai (2018), Sđd, tr.25-27.

(8)Linrothe, Robert N. (1999), Ruthless Compassion: Wrathful Deities in Early Indo-Tibetan Esoteric Buddhist Art, Serindia xb, tr.90.

(9)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.13, 64-65.

(10)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.13.

(11)Louis Frederic (2005), Sđd.

(12)Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Trung Quốc Phật giáo, đồ tượng giảng thuyết, NXB.TP.HCM, tr.194-196.

(13)Theo:

- Baroni, Helen Josephine (2002), The Illustrated Encyclopedia of Zen Buddhism, Rosen Pub. Group xb, tr.100.

- Miyasaka, Yūshō (2006), Fudō-shinkō Jiten, Ebisu Kōshō Shuppan xb, tr.56.

- Shōwa shinsan Kokuyaku Daizōkyō: Kaisetsu, Tōhō Shuppan xb năm 1930, tập 1, tr.120.

(14)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.64-67.

(15)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.68-81.

(16)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.163-175.

(17)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.155.

(18)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.163-175.

(19)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.85-91.

(20)Chandra, Lokesh (1988), The Thousand-Armed Avalokiteśvara, Abhinav xb, tập 1, tr.29-31.

(21)Faure, Bernard (2015), The Fluid Pantheon: Gods of Medieval Japan, Đại học Hawaii xb, tập 1, tr.120-123.

(22)Theo:

- Pal, Pratapaditya (1974), The Arts of Nepal, tập II: Painting, tr.6.

- Jha, Achyutanand (1993), Tathagata Akshobhya and the Vajra Kula: Studies in the Iconography of the Akshobhya Family, Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia về phương Đông, tr.35-36.

(23)Faure, Bernard (2015), The Fluid Pantheon: Gods of Medieval Japan, Đại học Hawaii xb, tập 1, tr.117.

(24)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.178-187.

(25)Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Sđd.

(26)Louis Frederic (2005), Sđd.

(27)Theo:

- De Visser, Marinus Willem (1928), Ancient Buddhism in Japan, tr.143-151.

- Vilbar, Sinéad (11/2013), “Kings of Brightness in Japanese Esoteric Buddhist Art”, Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan.

[https://www.metmuseum.org/essays/kings-of-brightness-in-japanese-esoteric-buddhist-art]

(28)Meher McArthur (2005), Sđd.

(29)Meher McArthur (2005), Sđd.

(30)Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Sđd.

(31)Louis Frederic (2005), Sđd.

(32)Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Sđd.

(33)Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Sđd.

(34)Meher McArthur (2005), Sđd.

(35)Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Sđd.

(36)Mã Thư Điền (2001), Sđd.

(37)Louis Frederic (2005), Sđd.

(38)Howard, Angela F. (1-3-1999), “The Eight Brilliant Kings of Wisdom of Southwest China”, Nghiên cứu Nhân học và Mỹ học, 35: 92-107.

(39)Mã Thư Điền (2001), Sđd.

(40)Mã Thư Điền (2001), Sđd.

(41)Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Sđd.

(42)Howard, Angela F. (1-3-1999), Sđd, tr.92-107.

(43)Linrothe, Robert N. (1999), Sđd, tr.89.

(44)Fuji, Tatsuhiko (2012), Juhō Zensho, Gakken Plus xb.

(45)Flying Deity Tobifudo, Ryūkō-zan Shōbō-in Official Website

[http://tobifudo.jp/butuzo/myoou/rokuji.html]

Chú thích hình:

M1: Bất Động Minh vương/Acala tại chùa Răng Phật và bảo tàng (Phố người Hoa, Singapore)

M2: Ái Nhiễm Minh vương/Rāgarāja (Aizen Myōō), thế kỷ XIII, Nhật Bản

M3: Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya tại chùa Răng Phật và bảo tàng (Phố người Hoa, Singapore)

M4: Ngũ Đại Minh vương, theo chiều kim đồng hồ từ tay phải trên là Kim Cương Dạ-xoa Minh vương/Vajrayakṣa, Hàng Tam Thế Minh vương/Trailokyavijaya, Quân Trà Lợi Minh vương/Kuṇḍali, and Đại Uy Đức Minh vương/Yamāntaka và Bất Động Minh vương/Acala ở trung tâm

M5: Ngũ Đại Minh vương, thế kỷ XII, Nhật Bản

M6: Mạn-đà-la Ái Nhiễm Minh vương, năm 1107, Nhật Bản, hiện vật Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York, Mỹ

(NSGN - 360)

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Người dân, Phật tử quanh vùng về đảnh lễ trong Lễ hội Quán Âm Nam Hải hàng năm

Cà Mau: Lễ hội Quán Âm Nam Hải tại Quán Âm Phật Đài

GNO - Sáng 8-5, tại Quán Âm Phật Đài (P.Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau) với sự chủ trì của Thượng tọa Thích Giác Nghi, Trưởng ban Quản trị Quán Âm Phật Đài, chư tôn đức Ban Quản trị và các tự viện tổ chức lễ hội Quán Âm Nam Hải.

Thông tin hàng ngày