1. Giới thiệu văn bia Từ Quang tháp ký văn
Tháp xây 3 tầng, ốp gạch men theo lối tân kỳ. Trên thân tháp có gắn tấm bia, được chế tác bằng đá Kính chủ, không trang trí hoa văn, có kích thước chiều ngang là 36,5cm, chiều cao là 55,5cm. Lòng bia có 16 hàng chữ Hán, mỗi hàng có 29 chữ, chữ khắc theo lối chữ Khải, chân hóa, đủ nét. Hàng đầu tiên hạ thấp một chữ, chính là tiêu đề Từ Quang tháp ký văn mà trong quá trình tu bổ ngôi tháp thợ hồ đã tô và lát gạch men lấn gần sát hàng tiêu đề. Bia có 3 hàng viết đài lên một chữ, đó là hàng thứ nhất, thứ hai và hàng niên đại. Bia có lời văn chiếm 8 hàng (không kể hàng tiêu đề), bài minh chiếm 2 hàng, niên đại cũng chiếm 2 hàng, môn đồ pháp tử, pháp tôn thì hạ thấp khoảng giữa bia, chiếm 3 hàng, hàng cuối chỉ ghi có một vị pháp tôn. Bia được soạn, khắc ngày Thượng hoán, tức thượng tuần nằm trong 10 ngày đầu của tháng, tháng đầu hạ tức tháng 4, năm Bính Ngọ niên hiệu Thiệu Trị thứ 6 (1846). Bia do đệ tử tên tự là Đạo Ngạn (1805-?) cung kính soạn. Nhiều người thấy hàng pháp tử liệt kê 4 vị, và cuối ghi “cung soạn” thì dễ lầm tưởng là 4 vị cùng soạn. Nếu 4 vị cùng soạn thì sẽ khắc thêm chữ “đồng” trước “cung soạn” để biết bài văn do tập thể thực hiện. Ở đây, từ “cung soạn” khắc dưới tên Thiền sư Đạo Ngạn nên chúng tôi cho Thiền sư Đạo Ngạn là vị soạn văn. Sau đây là phần nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch chú của tấm bia tháp(1).
慈光塔記文
夫塔者, 内藏舍利,外記德名,所以留後世而垂之不朽也。伏惟,黄嚴師,本邑人也,戊子誕生,二十而出家入道,四十而登壇受具,間于樂業崇寜寺住持焉。其心地豁如,性天朗若,成其修煉,發其智慧,而超脫輪迴也。乙酉季冬上澣初六圓寂也,丙戌孟春方,乃闍維,築小菴于寺後。
今法子等窃想,遥村懸筆,空注眼于斜陽;何如故里定根,稳棲神于浄域,輙此請靈歸貫,建寳塔于寺右,因叙其迹,壽之貞(2)珉。俾緇白邇遐,足于斯,目于斯,敬在道存,昭昭乎三光與對也。銘曰。
天生斯人,
知能並賦。
克相彼天,
惟師善諭。
提命功深,
作成德茂。
化满塵緣,
靈歸浄土。
緬想力生,
遂营翠堵。
脉脉道原,
傳之不朽。
峕
皇朝紹治萬萬年之陸,歲在丙午孟夏月上幹日。
法子字道謹,字道盛,字道流,字道岸恭撰。
法孫字生義,字生光,字生智,字生定,字生輝。
![]() |
Từ Quang tháp ký văn |
Phiên âm:
Từ Quang tháp ký văn
Phù tháp giả nội tàng xá-lợi, ngoại ký đức danh, sở dĩ lưu hậu thế nhi thùy chi bất hủ dã. Phục duy, Hoàng nghiêm sư, bản ấp nhân dã. Mậu Tý đản sinh, nhị thập nhi xuất gia nhập đạo, tứ thập nhi đăng đàn thụ Cụ(3). Gian vu Lạc Nghiệp, Sùng Ninh tự trụ trì yên. Kỳ tâm địa hoát như, tính thiên lãng nhược, thành kỳ tu luyện, phát kỳ trí tuệ, nhi siêu thoát luân hồi dã. Ất Dậu quý đông, Thượng hoán sơ lục, viên tịch dã. Bính Tuất, mạnh xuân phương nãi xà duy(4), trúc tiểu am vu tự hậu. Kim pháp tử đẳng thiết tưởng, diêu thôn huyền bút không chú nhãn vu tà dương; hà như cố lý định căn ổn thê thần vu tịnh vực. Triếp thử thỉnh linh quy quán kiến bảo tháp vu tự hữu. Nhân tự kỳ tích, thọ chi trinh mân, tỷ truy bạch(5) nhĩ hà, túc vu tư, mục vu tư, kính tại đạo tồn chiêu chiêu hồ tam quang(6) dữ đối dã. Minh viết:
Thiên sinh tư nhân,
Tri năng tịnh phú.
Khắc tướng bỉ thiên,
Duy sư thiện dụ.
Đề mệnh công thâm,
Tác thành đức mậu.
Hóa mãn trần duyên,
Linh quy Tịnh độ.
Miễn tưởng Lực sinh(7),
Toại doanh Thúy đổ(8).
Mạch mạch đạo nguyên,
Truyền chi bất hủ.
Hoàng triều Thiệu Trị vạn vạn niên chi lục, tuế tại Bính Ngọ, mạnh hạ nguyệt, thượng hoán nhật.
Pháp tử tự Đạo Cẩn, tự Đạo Thịnh, tự Đạo Lưu, tự Đạo Ngạn cung soạn.
Pháp tôn tự Sinh Nghĩa, tự Sinh Quang, tự Sinh Trí, tự Sinh Định, tự Sinh Huy.
Dịch nghĩa:
Bài văn ghi chép về tháp Từ Quang
Tháp là bên trong chứa xá-lợi, bên ngoài ghi chép bậc danh đức, để lưu lại cho đời sau mà không mất vậy. Kính nghĩ, nghiêm sư họ Hoàng, người ấp ta, sinh năm Mậu Tý (1768), hai mươi tuổi mới xuất gia vào đạo, bốn mươi tuổi lên đàn thọ giới Cụ túc(9), khoảng ấy trụ trì chùa Sùng Ninh, Lạc Nghiệp(10). Thầy ta tấm lòng rộng rãi, tính sáng như trời, thành tựu việc tu tập, phát mở trí tuệ mà vượt qua cõi luân hồi. Ngày Thượng hoán, cuối đông năm Ất Dậu (1835), tức ngày mùng 6 viên tịch, đầu xuân năm Bính Tuất (1836) mới hỏa táng, xây am nhỏ ở sau chùa.
Các pháp tử trộm nghĩ, thôn xa vọng nhớ, luống mắt nhìn theo bóng tà dương, chi bằng định gốc quê nhà, yên định tinh thần nơi cõi tịnh, liền đó, thỉnh linh cốt về quê, xây tháp ở bên phải ngôi chùa, nhân thuật lại sự tích, thọ cùng bia đá(11). Khiến cho hai hàng đệ tử tại gia, xuất gia xa gần đến nơi đây, thấy nơi đây, kính ở nơi đạo còn, chiếu sáng cùng với tam quang vậy. Bài minh rằng:
Trời sinh ra người
Thông minh dĩnh ngộ
Tướng mạo trang nghiêm
Chỉ thầy khéo dạy
Công trạng lớn lao
Làm nên đức tốt
Hóa độ đã xong
Quay về Tịnh độ
Tưởng nhớ Hòa thượng,
Bèn xây bảo tháp.
Đạo mạch hưng vượng,
Truyền mãi không đứt.
Ngày thượng tuần, tháng đầu hạ, năm Bính Ngọ, thứ 6 của muôn muôn năm niên hiệu Thiệu Trị, hoàng triều.
Pháp tử tự Đạo Cẩn(12), tự Đạo Thịnh(13), tự Đạo Lưu(14), tự Đạo Ngạn cung kính soạn. Pháp tôn tự Sinh Nghĩa(15), tự Sinh Quang(16), tự Sinh Trí(17), tự Sinh Định(18), tự Sinh Huy(19).
2. Nghiên cứu hành trạng Thiền sư Giác Điển Thanh Nhuận
Thứ nhất, đi tìm húy hiệu thiền sư an táng tại tháp Từ Quang. Bia tháp không ghi pháp danh, đạo hiệu mà chỉ biết “Hoàng nghiêm sư” người ấp ta. Trong học giới địa phương cùng chư Tăng thì cho đó là sư Hoàng Nghiêm, tức Hoàng Nghiêm là đạo hiệu của ngài. Chúng tôi thì hiểu Nghiêm sư là lời tôn kính chỉ về thầy(20), Hoàng là tộc tính của thiền sư, nghĩa là thầy họ Hoàng. Trong các bài văn bia tháp, hay sử dụng từ “bổn sư”, “tôn sư” để chỉ về vị thầy mà cắt tóc, trao giới hoặc truyền pháp. Bia tháp Từ Quang dùng từ “nghiêm sư” là một trường hợp khác, nghĩa chỉ về vị thầy tôn kính. Do vậy, phải được hiểu là nghiêm sư họ Hoàng, hoặc tôn sư họ Hoàng.
Trong bài Bia tháp Bi Quang chùa Thọ Vực mới được công bố gần đây, chúng tôi đã chứng minh Hoàng nghiêm sư chính là Thiền sư Giác Điển Thanh Nhuận, hiệu Lạc Đạo Thiền sư mà Cúng tôn sư khoa tại chùa Thọ Vực ghi chép(21). Đáng tiếc là khoa cúng lại ghi sai tên tháp, Từ Quang tháp thành Bi Quang tháp. Đây cũng là một lỗi thông thường trong các văn bản sao tả.
Thứ hai, thiền sư “bản ấp nhân” tức người bản ấp, tức thuộc thôn Trung của xã Trà Lũ mà nay thường gọi là Trà Lũ Trung. Thiền sư sinh năm Mậu Tý (1768), hai mươi tuổi mới xuất gia, tức năm đó là năm 1788. Vì không ghi địa điểm xuất gia cũng như bổn sư nên chúng tôi tra cứu các tư liệu liên hệ. Tấm bia tháp Liễu Viên tại chùa Thạch Cầu (Nguyệt Quang thiền tự)(22), phần môn đồ thì có tên Giác Điển và Thiền sư Giác Điển là một trong những môn nhân của Hòa thượng Đạo Nguyên Khoan Dực. Việc phát hiện này nhằm định rõ sự truyền đăng của Thiền phái Tào Động tại tỉnh Nam Định, nhất là thiết lập hệ phổ truyền thừa.
Theo bia tháp, năm bốn mươi tuổi tức năm 1800, thiền sư thọ Đại giới. Bia tháp không chép giới đàn tổ chức tại chùa nào. Không ghi vị Hòa thượng truyền giới. Thiền sư Giác Điển là đệ tử của Hòa thượng Khoan Dực thì ngài có thể thọ giới với bổn sư. Vì trong khoảng niên hiệu Cảnh Thịnh và Gia Long, Hòa thượng Khoan Dực thường về trấn Sơn Nam Hạ truyền giáo và ngài tổ chức giới đàn truyền trao giới pháp. Các tư liệu cho biết, ngài về chùa Thạch Cầu trùng tu, và du hóa ở chùa Sùng Phúc (Kiên Lao)(23). Hoặc giả định ngài tổ chức giới đàn tại chùa Đại Quang (Bắc Ninh) nơi mà ngài trụ trì.
Thứ ba, đạo tràng hành đạo của Thiền sư Giác Điển là chùa Sùng Ninh thôn Lạc Nghiệp(24). Đây là ngôi cổ tự được xây dựng dưới triều nhà Mạc và nhiều lần trùng tu quy mô. Theo tấm bia Chung các ký lập mùa đông năm Kỷ Tỵ, Gia Long thứ 8 (1809) thì Thiền tăng tự Giác Điển cùng với thiện tín tìm mua danh mộc, ngói gạch Bát Tràng để về xây dựng gác chuông. Trong khi đó, bài minh chuông khắc tháng 3 năm Quý Hợi, Gia Long thứ 2 (1803) thì chuông do Thiền tăng tự Giác Thiệu 覺紹cùng bản thôn chú tạo. Chùa Sùng Ninh vào năm 1803 có Thiền tăng tự Giác Thiệu trụ trì. Mãi đến năm 1809 thì Thiền sư Giác Điển kế thế và xây dựng gác chuông. Một vị đứng ra kêu gọi đúc chuông và một vị xây gác chuông. Đây là tư liệu ghi chép sớm về Thiền sư Giác Điển và qua đó xác định thiền sư trụ trì chùa Sùng Ninh thôn Lạc Nghiệp mà chính tấm bia tháp Từ Quang xác nhận.
Sử liệu ghi chép về Thiền sư Giác Điển khá hiếm. Thiền sư hành đạo tại chùa Sùng Ninh và viên tịch tại đây vào ngày mùng 6 tháng 12 năm Ất Dậu (1835). Đầu năm 1836 mới hỏa táng và lập am nhỏ sau chùa. Điều lạ là môn đồ xây am chứ không xây tháp. Mãi đến 10 năm sau, tức năm 1846, môn đồ thỉnh linh cốt về chùa Linh Quang, Trà Lũ xây dựng tháp Từ Quang để mãi phụng thờ. Theo thiển ý, chùa Sùng Ninh không có môn đồ kế thừa nên tông môn mới đưa linh cốt của Thiền sư Giác Điển về chùa Linh Quang, ngôi chùa quê hương của ngài để tiện bề hương hỏa. Đây cũng chính là câu trả lời, tại sao chùa Linh Quang có tháp Thiền sư Giác Điển.
Theo bia tháp, Thiền sư Giác Điển có 4 vị đệ tử là Đạo Cẩn, Đạo Thịnh, Đạo Lưu và Đạo Ngạn. Pháp phái hưng thịnh nhờ hai vị Đạo Lưu và Đạo Ngạn và truyền xuyên suốt đến ngày nay là từ Thiền sư Đạo Ngạn. Thiền sư Đạo Ngạn có ba vị đại đệ tử là Thiền sư Sinh Nghĩa trụ trì chùa Thánh Ân, Thiền sư Sinh Thành trụ trì chùa Nha Chính (Hưng Long tự), và Thiền sư Sinh Định trụ trì chùa Phú Ninh. Từ ba vị này hình thành nên ba chi nhánh và truyền thừa mở rộng sang nhiều ngôi chùa khác. Sau này mới gộp chung thành sơn môn Ân Phú Cổ, tức Thánh Ân, Phú Ninh và Cổ Lễ.
Tóm lại, việc dịch chú bia Từ Quang tháp bi văn cung cấp sử liệu về Thiền sư Giác Điển Thanh Nhuận, một vị thiền sư phái Tào Động Nam truyền. Đây là vị Thiền Tổ có công đào tạo học trò kế nghiệp, làm hưng thịnh pháp phái Tào Động tại Nam Định hiện nay. Trong bia tuy không ghi chép rộng về tình hình Phật giáo, nhưng qua việc đề cập đến hành trạng Thiền sư Giác Điển trụ trì chùa Sùng Ninh, xây dựng gác chuông vào thời Gia Long (1802-1820), đã cho biết được một số thông tin về danh tăng và Phật sự của Phật giáo Nam Định thời Nguyễn.
-----------------------
(1)Trên FB Đỗ Trác có giới thiệu bài bia Từ Quang tháp ký văn. Soạn giả cho số hóa chữ Hán, phiên âm theo từng hàng của văn bia. Soạn giả có dịch chú một số câu, và gợi ý về sư Hoàng Nghiêm. Khi so sánh phần chữ Hán số hóa của Đỗ Trác và văn bia cùng thác bản thì nhận ra gõ nhầm một số chữ Hán. Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Trác là vị công bố tấm bia tháp Từ Quang sớm nhất. Nhân đây, chúng tôi có lời tri ân những phát hiện mới của bác.
(2)Chữ Trinh: bia thêm bộ ngọc 玉 vào bên trái.
(3)Cụ túc: chỉ giới đầy đủ, ở đây chính là Tỳ-khưu giới, Thanh văn giới, gồm 250 giới của Tỳ-khưu và ở đây được hiểu là vị sư được lên đàn thọ Tỳ-khưu giới.
(4)Xà duy: dịch từ Phạn ngữ, chính là hỏa táng, một hình thức mai táng theo tinh thần Phật giáo xưa, sau khi thiêu xong, lấy phần tro đem chôn hoặc rãi dưới sông hồ.
(5)Truy bạch: truy chỉ màu nâu, bạch là màu trắng. Đây là hai màu vải được hàng xuất gia và tại gia dùng làm y phục. Do vậy, chỉ hai chúng xuất gia và tại gia, đệ tử của Đức Phật.
(6)Tam quang: chỉ nhật, nguyệt, tinh, chỉ ba cái tỏa ánh sáng.
(7)Lực sinh: là từ chỉ Hòa thượng, còn gọi là thân giáo sư, vị thầy mà đệ tử thân cận được dạy bảo và truyền trao giới pháp để tiến tu đạo nghiệp.
(8)Thúy đỗ: còn gọi là Thúy đổ ba, chỉ ngôi tháp.
(9)Cụ túc giới: tức giới đầy đủ, được hiểu là giới Tỳ-khưu có 250 giới.
(10)Chùa Sùng Ninh thuộc thôn Lạc Nghiệp mà nay là chùa Sùng Linh (chắc do âm đọc địa phương, văn bia đều đề Sùng Ninh tự) xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đây là ngôi cổ tự nổi tiếng của huyện Xuân Trường. Hiện chùa được trùng tù khang trang với đầy đủ hạng mục công trình.
(11)Câu này nhờ Đại đức Hải Hạnh dịch giúp và thầy đã giúp cho việc rà soát phần gõ chữ Hán cũng như cú đậu. Nhân đây, cảm ơn thầy nhiều.
(12)Thiền sư Đạo Cẩn: theo Cúng bản sư khoa, ngài mới ở giới pháp Sa-di, hiệu là Trung Thận. Thiền sư họ Trần, quê Phương Để, thọ Tam quy với Tổ sư Tinh Tiến, xuất gia với Thiền sư Giác Điển chùa Sùng Ninh và thọ Sa-di với Bồ tát Tịnh Viên. Sau đó về trụ trì chùa Tiên Quang (Trà Đông). Ngài viên tịch được lập tháp Chính Chân. (Sa-môn Giác Đạo Ngạn, Cúng bản sư khoa, bản sao tả do Tỳ-khưu Thanh Nghị chép lại năm Giáp Tuất niên hiệu Bảo Đại (1934), chúng tôi sử dụng bản photocopy tại chùa Thọ Vực, Nam Định).
(13)Thiền sư Đạo Thịnh: chưa rõ hành trạng.
(14)Thiền sư Đạo Lưu: vị Tổ sư trụ trì chùa Thọ Vực tại Xuân Trường. Hành trạng của thiền sư xin tham khảo bia Bi Quang tháp ký văn do Thiền sư Giác Đạo Ngạn chùa Cảnh Linh soạn năm Tự Đức thứ 3.
(15)Thiền sư Sinh Nghĩa: cao đồ của Thiền sư Đạo Ngạn, trụ trì chùa Cả, Nam Định.
(16)Thiền sư Sinh Quang: là môn nhân của Thiền sư Đạo Lưu chùa Thọ Vực.
(17)Thiền sư Sinh Trí: một đệ tử của Thiền sư Đạo Lưu chùa Thọ Vực.
(18)Thiền sư Sinh Định: theo Cảnh Linh tự bi ký thì sư người Trà Lũ Bắc, xuất gia với Thiền sư Đạo Ngạn, trụ trì chùa Văn Hiến.
(19)Thiền sư Sinh Huy: đệ tử của Thiền sư Đạo Lưu, trụ trì chùa Trung Quang (Hà Lạn), huyện Hải Hậu, Nam Định.
(20)Xin tham khảo Từ nguyên (bản hợp đính) Thượng Vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1999, tr.301.
(21)Thích Đồng Dưỡng (2025), Bia tháp Bi Quang chùa Thọ Vực, Nguyệt san Giác Ngộ, số 354, tr.47.
(22)Chùa Thạch Cầu (Nguyệt Quang thiền tự) tọa lạc xã Nam Minh, tỉnh Ninh Bình. Chùa được xây dựng dưới triều Hậu Lê, được Hòa thượng Khoan Dực trùng tu. Dưới triều Nguyễn, chùa do Hòa thượng Thông Khiết, Nguyên Khoan Tích Thiện, Thanh Viện thuộc Thiền phái Lâm Tế trụ trì. Đây là ngôi tổ đình trước do chư Tăng phái Tào Động trụ trì, sau đó mới do chư Tăng phái Lâm Tế kế thừa, tức tiền Tào hậu Lâm như câu đối ở chùa ghi lại.
(23)Xin tham khảo bài tựa Tào Động Nam truyền Đệ nhất Tổ sư ngữ lục, trang 3 phần nguyên văn chữ Hán. (Hòa thượng Khoan Dực, 2015, Tào Động tông Nam truyền Tổ sư ngữ lục, bản dịch của Thích Tiến Đạt, NXB.Hồng Đức, Hà Nội).
(24)Chùa Sùng Ninh: một ngôi cổ tự hiện tọa lạc làng Lạc Nghiệp xã Xuân Hưng, tỉnh Ninh Bình. Hiện nay, không rõ lý do gì biển chùa ghi bằng chữ Quốc ngữ là chùa Sùng Linh. Theo chúng tôi, nên chỉnh lại thành chùa Sùng Ninh cho đúng âm chữ Hán mà các bia đá của chùa ghi chép. Hiện chùa do Thượng tọa Thích Thanh Đoàn quản lý trụ trì và đang tiếp tục xây dựng bảo tháp Cửu phẩm liên hoa.
(NSGN 364)

