Thứ nhất là lý tưởng xuất gia tu tập trở thành bậc Chánh đẳng giác (Sammāsambuddho), vén lui màn vô minh che đời. Thứ hai là lý tưởng tại gia phấn đấu làm vị Chuyển luân Thánh vương (Cakkavattī), dùng Chánh pháp trị nước, đem lại thái bình phồn vinh cho xứ sở.
Trong lịch sử nhân loại, hai lý tưởng mang đặc tính Phật giáo này từng được thực hiện thành công tại xứ sở Ấn Độ cổ đại. Sự xuất hiện của Đức Phật thế kỷ thứ VI trước Tây lịch làm sáng tỏ lý tưởng thứ nhất, trong khi sự đăng quang của vua A Dục (Asoka) thế kỷ thứ III trước Tây lịch hiện thực hóa lý tưởng thứ hai. Ở một mức độ nào đó, hai lý tưởng này đã được vận dụng rất hiệu quả ở Việt Nam, dưới các thời đại Lý - Trần, nhất là vào thời nhà Trần, tạo nên vị thế một Đại Việt huy hoàng thời bấy giờ.
Đáng chú ý rằng cả hai lý tưởng đạo và đời này cùng có chung nguồn gốc và tôn chỉ thực hiện. Đó là cả hai đều được xây dựng trên Chánh pháp, lấy Chánh pháp làm chỗ y chỉ, tôn trọng Chánh pháp và hành xử theo Chánh pháp. Chánh pháp (Dhamma) ở đây tức là đạo lý giác ngộ muôn đời của chư Phật, là Bát Thánh đạo (Ariya Atthangikamagga), do Đức Thích Ca Mâu Ni phát hiện, có công năng làm sinh khởi và phát huy giới đức, tâm đức, tuệ đức ở bên trong mỗi chúng sinh, hướng chúng sinh đạt đến hoàn thiện, giác ngộ, giải thoát hoàn toàn mọi phiền não khổ đau. Cả Phật và vua Chuyển luân Thánh vương đều được sinh ra từ Chánh pháp, được thai nghén và nuôi dưỡng nhiều đời bởi Chánh pháp, được giác ngộ nhờ Chánh pháp, do đó đều nhất mực tôn kính và hành xử theo Chánh pháp.
Phật lấy pháp giác ngộ làm chỗ y chỉ, thể hiện nếp sống giác ngộ và tuyên thuyết đạo giác ngộ nên Phật trở thành chỗ quy ngưỡng lớn cho mục tiêu giác ngộ, thoát ly khổ đau của hết thảy chúng sinh. Vua Chuyển luân Thánh vương cũng lấy pháp giác ngộ làm chỗ y chỉ, sống và cai trị theo pháp giác ngộ nên dễ dàng thu phục nhân tâm bách tính, kiến lập một thế giới thái bình thịnh trị, mang lại hạnh phúc và an lạc cho muôn dân. Do công đức tích tập thiện pháp trong nhiều đời kiếp, Phật và vua Chuyển luân thành tựu nhiều đức năng và phước báo to lớn, có công năng giúp cho chư vị hoàn thành sứ mạng thuyết pháp độ sinh và xây dựng xứ sở thái bình thịnh vượng.
Phật sở hữu mười Như Lai lực (Tathāgatassa dasa-balāni), tức mười năng lực trí tuệ trợ duyên thiết thực cho Ngài trong sự nghiệp thuyết pháp độ sinh; trong khi vua Chuyển luân Thánh vương thành tựu bảy món báu (satta-ratanāni), hỗ trợ đắc lực cho nhà vua trong vai trò người quản lý và điều hành quốc gia. Trong các bài thuyết pháp của Ngài, Đức Phật nói cho chúng ta biết do công hạnh tu tập Chánh pháp trong nhiều đời kiếp, đặc biệt là hạnh từ tâm đối với chúng sinh, nên Ngài từng nhiều phen tái sinh làm vua Chuyển luân Thánh vương trước khi trở thành Phật, bậc Chánh đẳng giác. Như vậy, Phật và vua Chuyển luân Thánh vương tuy hai mà một. Vua Chuyển luân Thánh vương là Phật sẽ thành.
Cũng do lưu xuất và y cứ trên pháp giác ngộ, cả hai lý tưởng này cùng nhắm đến một mục tiêu duy nhất. Đó là phụng sự hạnh phúc và an lạc cho chúng sinh bằng các biện pháp chân chính hướng thiện. Phật và vua Chuyển luân Thánh vương đều hiểu rõ và cảm thông sâu sắc về nỗi khổ của chúng sinh, do đó đều mang tâm nguyện nhập thế, giúp cho chúng sinh thoát ly khổ đau.
Phật và vua Chuyển luân Thánh vương đều hiểu rõ và cảm thông sâu sắc về nỗi khổ của chúng sinh, do đó đều mang tâm nguyện nhập thế, giúp cho chúng sinh thoát ly khổ đau. Phật dùng kinh nghiệm giác ngộ để khai thị và dẫn dắt chúng sinh đạt đến cảnh giới an vui giải thoát. Vua Chuyển luân Thánh vương y cứ vào pháp giác ngộ của chư Phật để lãnh đạo và xây dựng đất nước thái bình thịnh vượng. Xem ra thì hai lý tưởng đạo và đời này tuy hai mà một, đều y cứ trên Chánh pháp và đều lấy hạnh phúc của chúng sinh làm mục tiêu phụng sự.
Phật dùng kinh nghiệm giác ngộ để khai thị và dẫn dắt chúng sinh đạt đến cảnh giới an vui giải thoát. Vua Chuyển luân Thánh vương y cứ vào pháp giác ngộ của chư Phật để lãnh đạo và xây dựng đất nước thái bình thịnh vượng. Xem ra thì hai lý tưởng đạo và đời này tuy hai mà một, đều y cứ trên Chánh pháp và đều lấy hạnh phúc của chúng sinh làm mục tiêu phụng sự. Một bên phụng sự an lạc của chúng sinh bằng con đường hoằng pháp, khuyến khích nếp sống phát triển đạo đức và giải thoát tâm linh cho quần chúng. Một bên kiến tạo hạnh phúc cho chúng sinh bằng biện pháp quản lý và cải tiến thế sự theo đường lối Chánh pháp, bảo đảm an ninh quốc phòng, ổn định kinh tế và chính trị, phát huy truyền thống văn hóa và đạo đức, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Nói đến lý tưởng thứ nhất - xuất gia tu tập trở thành bậc Giác ngộ, vén lui màn vô minh che đời, thì cuộc đời và sự nghiệp thuyết pháp độ sinh của Đức Phật đã là các minh chứng hết sức rõ ràng. Đức Phật là hiện thân trọn vẹn của lý tưởng xuất gia phụng sự hạnh phúc an lạc của chúng sinh bằng con đường hoằng pháp, chuyển mê khai ngộ cho chúng sinh. Kinh văn truyền thống xác nhận rất rõ vai trò thuyết pháp độ sinh của Đức Thế Tôn:
“Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch”.
“Này chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, quý vị nghĩ thế nào? Thế Tôn phục vụ hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chư Thiện hữu, những ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và giữ trọn giới luật, những vị này khi thân hoại mệnh chung, một số được sanh lên Thiên chúng Tha Hóa Tự Tại thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Hóa Lạc thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Đâu-suất thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Dạ-ma thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Tam thập tam thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Tứ Thiên Vương thiên, những ai phải điền vào cho đủ số hạ phẩm nhất được sanh vào chúng Càn-thát-bà”.
Chúng ta hiểu Đức Phật mong muốn các học trò mình thể hiện nếp sống: Thể nhập thế gian hay dấn thân vào cuộc đời (bậc Thánh đi vào làng) bằng tâm thái trân trọng và hộ trì, nỗ lực làm mọi điều tốt lành khiến cho cuộc sống thêm đẹp, cho cuộc đời thêm tươi, tuyệt đối không làm những gì gây thương tổn cho cuộc đời. Hãy sống nhiệt tâm và vô hại; giống như loài ong đến với hoa, chợt đến rồi chợt đi, chỉ nhận lấy chút phấn nhụy hoa, giúp cho muôn loài thảo mộc đơm hoa kết trái, mà không làm tổn thương hương sắc của loài hoa. Người xuất gia được khuyên thể hiện một nếp sống nhiệt tình cao quý như vậy giữa cuộc đời.
Kinh văn cũng ghi nhận những lời dạy chí thiết của Thế Tôn dành cho các Tỳ-kheo nhấn mạnh về lý tưởng phụng sự hạnh phúc an lạc cho chúng sinh bằng con đường hoằng dương Phật pháp, nêu cao gương hạnh giác ngộ của người xuất gia:
“Này các Tỳ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả sập bẫy ở Thiên giới và Nhân giới. Các Thầy cũng đã được giải thoát khỏi tất cả sập bẫy ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỳ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh”.
“Như ong đến với hoa,
Không hại sắc và hương,
Che chở hoa lấy nhụy,
Bậc Thánh đi vào làng”.
Diễn lại bài kệ trên, chúng ta hiểu Đức Phật mong muốn các học trò mình thể hiện nếp sống: Thể nhập thế gian hay dấn thân vào cuộc đời (bậc Thánh đi vào làng) bằng tâm thái trân trọng và hộ trì, nỗ lực làm mọi điều tốt lành khiến cho cuộc sống thêm đẹp, cho cuộc đời thêm tươi, tuyệt đối không làm những gì gây thương tổn cho cuộc đời. Hãy sống nhiệt tâm và vô hại; giống như loài ong đến với hoa, chợt đến rồi chợt đi, chỉ nhận lấy chút phấn nhụy hoa, giúp cho muôn loài thảo mộc đơm hoa kết trái, mà không làm tổn thương hương sắc của loài hoa. Người xuất gia được khuyên thể hiện một nếp sống nhiệt tình cao quý như vậy giữa cuộc đời.
Về lý tưởng thứ hai - tại gia phấn đấu làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị quốc, đem lại thái bình phồn vinh cho xứ sở, các bản kinh truyền thống ghi chép rõ ràng và chi tiết:
“Vua là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, thống trị các quốc độ và đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có đầy đủ báy món báu, tức là xa luân báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch. Vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị nước, không dùng trượng, không dùng kiếm”.
Chân dung vị Chuyển luân Thánh vương được mô tả trong kinh điển đạo Phật là rất đặc biệt. Do công đức tu tập thiện pháp trong nhiều đời kiếp nên vua là người hưởng được nhiều phước báo hết sức to lớn. Nhà vua có bốn đức như ý, tức đẹp trai khả ái, tuổi thọ cao, ít bệnh tật và được mọi người quý mến. Vua có đầy đủ uy quyền và binh lực hùng mạnh nhưng chủ trương thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái. Vua có xa luân báu có khả năng giúp cho nhà vua dễ dàng chinh phục địa cầu cho đến hải biên bằng đường lối hòa bình đức trị. Xa luân báu này lăn đến đâu thì ở đó trở thành xứ sở hiền hòa của vua Chuyển luân Thánh vương, dân chúng ở đó được khuyên dạy về nếp sống không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh trong các dục, không nói láo, không uống rượu và sống tri túc.
Ngoài ra, vua còn có voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu, và tướng quân báu, tức những thứ giúp cho nhà vua có đủ điều kiện thuận lợi và năng lực sáng suốt trong việc trị vì đất nước rộng lớn. Nhưng vua là người thiểu dục tri túc, sống nếp sống tự điều, tự chế và có tấm lòng bố thí rộng rãi. Vua thường xuyên hành thiền, tâm đổ đầy đức từ bi hỷ xả. Nhà vua sở hữu vô số kinh thành rộng lớn, vô số cung điện nguy nga tráng lệ, vô số ngọc ngà châu báu nhưng sống với tâm không ái luyến, không tham đắm vật dục. Đức vua thấm nhuần giáo lý vô thường, vô ngã của đạo Phật nên thể hiện một nếp sống hết sức thanh thoát và minh triết.
Về vai trò trách nhiệm và pháp trị quốc của vị Chuyển luân Thánh vương, bản kinh Cakkavattī Sīhanāda thuộc Trường bộ ghi nhận đầy đủ và cụ thể, thông qua di ngôn của vua Chuyển luân Thánh vương Dalhanemi truyền dạy lại cho vị thái tử kế nhiệm:
“Này thái tử thân yêu, con y cứ vào Pháp, kính trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, tôn trọng Pháp, tự con trở thành Pháp tràng, Pháp kỳ, xem Pháp là thầy, tự trở thành người bảo vệ hợp pháp cho thứ dân, cho quân đội, cho Sát-đế-lỵ, cho quần thần, cho Bà-la-môn, cho gia chủ, cho thị dân, thôn dân, cho Sa-môn, Bà-la-môn, cho các loài thú và loài chim. Chớ có làm gì phi pháp trong quốc độ của con. Này con thân yêu, nếu trong quốc độ của con, có những Sa-môn, Bà-la-môn từ bỏ dục vọng, không phóng dật, thực hành nhẫn nhục từ ái, nhiếp phục tự kỷ, an chỉ tự kỷ, giải thoát tự kỷ, thỉnh thoảng sẽ đến với con và hỏi con: ‘Này Tôn giả, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện, thế nào là có tội, thế nào là không có tội, như thế nào nên thực hành, như thế nào không nên thực hành, hành động như thế nào đem lại bất lợi và đau khổ cho tôi lâu ngày, hành động như thế nào đem lại lợi ích và hạnh phúc cho tôi lâu ngày?’ Con hãy nghe họ và ngăn chặn họ khỏi sự bất thiện và khuyến khích họ làm điều thiện”.
Bởi vua là người sống theo Chánh pháp và vận dụng Chánh pháp để xây dựng đất nước nên trong vương quốc của nhà vua nếp sống tuân thủ năm giới cấm - không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu - và tri túc trở thành nền tảng đạo đức và văn hóa nổi bật của toàn xã hội. Kinh Cakkavattī Sīhanāda cho biết cứ nửa tháng một lần, vua Chuyển luân Thánh vương nghiêm trì trai giới (sống theo giới hạnh của người xuất gia) rồi sau đó du hành khắp vương quốc rộng lớn của mình bằng xa luân báu, đi đến đâu nhà vua đều khuyên nhắc mọi người, từ quan chí dân, thực hành năm giới cấm và sống tri túc. Hết thảy quan dân trong nước đều nhất mực hoan hỷ nghe theo lời khuyên dạy của vua Chuyển luân Thánh vương, với lòng kính trọng và biết ơn: “Đức vua sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, đã làm cho chúng ta sung sướng. Chúng ta đã sống thật hạnh phúc dưới thời vua sống như Pháp và dùng Chánh pháp trị nước này”; “Đức vua là cha của chúng ta, chúng ta là con cái của người; người hiểu chúng ta như hiểu chính mình”.
![]() |
Trong đường lối trị quốc an dân, vua là người biết lắng nghe lời can gián của các bậc trung thần, không dùng vũ lực và hình phạt nhằm trấn áp quần chúng, không đánh sưu cao thuế nặng vào những lúc đất nước gặp phải tai ương khốn khó. Trái lại, nhà vua thấu hiểu lòng dân, có tâm khoan dung độ lượng, khéo vận dụng “sức người sức của” trong chính sách trị quốc khiến ổn định nhân tâm và phát triển đất nước. Hết thảy dân chúng trong nước đều an cư lạc nghiệp, hân hoan làm những việc công ích phục vụ cho các mục tiêu phúc lợi cộng đồng, đất nước thái bình thịnh vượng, mọi nhu yếu sử dụng hàng ngày của người dân như đồ ăn, đồ uống, đồ mặc, đồ nằm và phương tiện đi lại được cung cấp miễn phí tại những điểm công cộng, khắp nơi dân chúng hân hoan vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống với nhà cửa mở rộng:
“Bấy giờ vua Mahāvijita suy nghĩ: ‘Ta nay có được vô lượng tài bảo thuộc nhân gian, chinh phục đại địa cầu và sống an trú như vậy. Ta hãy tổ chức đại tế đàn, và nhờ vậy ta sẽ được hưởng hạnh phúc an lạc lâu dài’. Rồi vua Mahāvijita nói với vị Bà-la-môn đại thần: ‘Này Bà-la-môn, ta muốn tổ chức đại tế đàn, khanh hãy khuyên ta như thế nào để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu dài’. Lúc ấy vị Bà-la-môn đại thần liền tấu trình:
‘Tâu Đại vương, vương quốc này chịu tai ương, chịu ách nạn, đầy rẫy bọn cướp làng, đầy rẫy bọn cướp ấp, đầy rẫy bọn cướp đô thị, đầy rẫy bọn cướp đường. Trong quốc độ chịu tai ương, chịu ách nạn như vậy, nếu Đại vương đánh thuế má mới, như vậy Đại vương có ý nghĩ: ‘Ta hãy trừ diệt bọn giặc cỏ này, hoặc bằng tử hình, hoặc bằng cấm cố, hoặc bằng phạt vạ, hoặc bằng khiển trách, hoặc bằng tẩn xuất’. Nhưng bọn giặc cỏ này sẽ không được trừ diệt một cách hoàn toàn. Những bọn còn lại không bị hình phạt sau lại tiếp tục hoành hành vương quốc này. Nhưng nếu theo phương pháp sau đây, bọn giặc cỏ ấy sẽ được trừ diệt một cách hoàn toàn. Những vị nào trong quốc độ Đại vương nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Đại vương hãy cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ Đại vương nỗ lực về thương nghiệp, Đại vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ Đại vương nỗ lực về quan chức, Đại vương hãy cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm vào nghề riêng của mình sẽ không nhiễu hại quốc độ Đại vương. Và ngân quỹ Đại vương sẽ được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng’.
Rồi vua Mahāvijita nghe theo lời khuyên của vị Bà-la-môn đại thần. Những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, vua Mahāvijita cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, vua Mahāvijita cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, vua Mahāvijita cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm về nghề nghiệp của mình không còn nhiễu hại quốc độ nhà vua; ngân quỹ nhà vua được dồi dào, quốc độ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng”.
Để bắt đầu một năm mới, hết thảy mọi người con Phật đều cùng nhau dốc tâm cầu nguyện cho đạo pháp trường tồn, đất nước thái bình, nhân dân an lạc, đi đôi với niềm tin tưởng và lòng mong mỏi các nhà lãnh đạo sẽ tiếp nối lý tưởng cao quý của Phật và của vị Chuyển luân Thánh vương được nói đến trong giáo lý nhà Phật để dẫn dắt đất nước đạt đến thái bình thịnh vượng. Người Phật tử chúng ta nguyện ước cho cả hai lý tưởng đạo và đời đều được viên thông. Vì chúng ta hiểu rằng bao lâu hai lý tưởng cao cả này được chú ý học tập và vận dụng đúng đắn bởi tất cả mọi người, nhất là các nhà lãnh đạo tôn giáo và lãnh đạo đất nước, thì bấy giờ Đạo pháp sẽ trường tồn, đất nước sẽ thái bình, toàn dân sẽ ấm no hạnh phúc. Cõi Tịnh độ không còn là ước mơ xa xăm mà trở thành hiện thực ngay chính trên thế gian này.
Nhìn chung, hai lý tưởng đạo và đời có chung mục đích “phụng sự hạnh phúc và an lạc cho chúng sinh” được đề cập đầy đủ và nhấn mạnh trong đạo Phật nói rõ tâm nguyện và ước mong của người con Phật về một đất nước thái bình thịnh vượng được xây dựng trên Chánh pháp và vận hành theo Chánh pháp, trong đó đời sống của con người cũng như muôn loài được bảo đảm ổn định về mọi mặt và được thấm nhuần Phật pháp; một xứ sở phát triển hài hòa giữa đạo và đời, ở trong đó các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng như lãnh đạo đất nước cùng nỗ lực theo đuổi một hướng đi có chung mục đích là vận dụng Chánh pháp để xây dựng đất nước thái bình thịnh trị, bảo đảm sự ổn định về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội nhằm mục đích nâng cao đời sống vật chất, đời sống đạo đức, đời sống hạnh phúc và giác ngộ tâm thức cho toàn dân.
Hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến xuân về thì những người con Phật đều cùng nhau thể hiện tâm nguyện và ước mong sâu xa của mình về một đất nước thái bình, toàn dân an cư lạc nghiệp bằng cách tổ chức những buổi lễ trang trọng tại các ngôi chùa gọi là “Nguyện cầu quốc thái dân an”. Để bắt đầu một năm mới, hết thảy mọi người con Phật đều cùng nhau dốc tâm cầu nguyện cho đạo pháp trường tồn, đất nước thái bình, nhân dân an lạc, đi đôi với niềm tin tưởng và lòng mong mỏi các nhà lãnh đạo sẽ tiếp nối lý tưởng cao quý của Phật và của vị Chuyển luân Thánh vương được nói đến trong giáo lý nhà Phật để dẫn dắt đất nước đạt đến thái bình thịnh vượng. Người Phật tử chúng ta nguyện ước cho cả hai lý tưởng đạo và đời đều được viên thông. Vì chúng ta hiểu rằng bao lâu hai lý tưởng cao cả này được chú ý học tập và vận dụng đúng đắn bởi tất cả mọi người, nhất là các nhà lãnh đạo tôn giáo và lãnh đạo đất nước, thì bấy giờ Đạo pháp sẽ trường tồn, đất nước sẽ thái bình, toàn dân sẽ ấm no hạnh phúc. Cõi Tịnh độ không còn là ước mơ xa xăm mà trở thành hiện thực ngay chính trên thế gian này.
Lý tưởng “phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật” của đạo Phật không ngừng tác thành các thế hệ Phật tử Việt Nam thương nước thương dân. Khi được hỏi về vận mệnh đất nước, Thiền sư Đỗ Pháp Thuận khuyên nhà vua Phật tử Lê Đại Hành hãy dùng tâm đức và tuệ đức gắn với việc phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để trị nước an dân (vô vi cư điện các), tức lắng tâm thấu hiểu được nỗi lòng của muôn dân bách tính để tìm ra biện pháp tối ưu nhằm giải quyết kịp thời việc nước việc dân, không để cho chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa bè phái chi phối và thao túng, khiến cho dân chúng khắp nơi được vui hưởng thái bình, toàn dân an cư lạc nghiệp (xứ xứ tức đao binh); làm được như thế thì đất nước sẽ đạt đến thái bình thịnh vượng. Thiền sư Mãn Giác đời Lý thì mong muốn đồ chúng xuất gia và tại gia của mình thực thi tâm giác ngộ và tâm từ bi ở trong cuộc đời, mang lại niềm tin yêu cho nhiều người, hân hoan cho nhiều người, hướng thiện cho nhiều người, an lạc cho nhiều người ở mọi lúc mọi nơi, vì theo cái nhìn của Thiền gia thì giác ngộ là phi thời gian, vượt ra ngoài ý niệm thời-không; khi nào trí tuệ và tâm từ bi tuôn chảy thì an lạc xuất hiện, giải thoát xuất hiện, hạnh phúc xuất hiện, Niết-bàn xuất hiện - “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một cành mai”.
------------------------
1 Kinh Đại bổn, Trường bộ.
2 Kinh Tướng, Trường bộ.
3 Kinh Thành ấp, Tương ưng bộ.
4 Kinh Tại Uruvelā, Tăng chi bộ.
5 Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống, Trường bộ.
6 Đại kinh Sư tử hống, Trung bộ.
7 Kinh Hiền ngu, Trung bộ.
8 Kinh Đại Thiện Kiến vương, Trường bộ; Kinh Ngủ gục, Tăng chi bộ.
9 Đại kinh Pháp hành, Trung bộ.
10 Kinh Xà-ni-sha, Trường bộ.
11 Kinh Bẫy sập, Tương ưng bộ.
12 Kinh Pháp cú, kệ số 49.
13 Kinh Tướng, Trường bộ.
14 Kinh Đại Thiện Kiến vương, Trường bộ.
15 Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống, Trường bộ.
16 Kinh Xà-ni-sha, Trường bộ.
17 Bi ký II (Jaugada), Thích Tâm Minh, A Dục vương (Asoka): Cuộc đời và sự nghiệp, tr.302-303.
18 Kinh Đại Thiện Kiến vương, Trường bộ.
19 Kinh Đại Thiện Kiến vương, Trường bộ.
20 Kinh Kūtadanta, Trường bộ.
21 Hai câu cuối trong bài kệ “Cáo tật thị chúng” của Thiền sư Mãn Giác đời Lý.

