Sự phát triển của Phật giáo từ Ấn Độ đến các nước lân cận trong đó có cả Trung Quốc và Việt Nam xét trên nhiều phương diện, một phần được sự quan tâm, hỗ trợ của các chủ tàu buôn thời bấy giờ. Nói cách khác, nếu như không có sự hỗ trợ của các chủ tàu buôn trên biển thì diện mạo của Phật giáo Trung Quốc và Việt Nam sẽ có nhiều điều khác biệt so với hôm nay.
Điều đầu tiên cần phải kể đến là công lao của chủ tàu buôn tên là Nan-đề (難提, Nandi) trong việc chuyên chở các giới sư Ni đến Trung Hoa truyền thừa giới pháp cho Ni chúng vào năm 434. Theo Cao tăng truyện, quyển 2; Tỳ-kheo-ni truyện, quyển 2 và quyển 3; Nan-đề vốn là người Ấn Độ, ông là chủ tàu buôn lớn, thường qua lại giữa Tích Lan và Trung Hoa. Năm Nguyên Gia thứ sáu (429)(1), một số chư Ni theo thuyền của ông đến Trung Hoa và lưu lại chùa Ảnh Phước (影福寺). Sau khi thăm viếng nhiều nơi thì các vị Ni chúng Tích Lan biết rằng, vào lúc bấy giờ tại Trung Hoa đã có Tỳ-kheo-ni nhưng việc truyền thọ giới Cụ túc chưa đúng pháp, cụ thể là chưa được truyền thọ giới pháp giữa nhị bộ Đại tăng.
Thể theo sự khuyến cầu của Ni chúng, chủ tàu buôn Nan-đề đã về lại Tích Lan nhiều lần để thỉnh Hòa thượng Ni Thiết-tát-la (鐵薩羅, Devasārā) và các giới sư Ni sang Trung Hoa để như pháp truyền giới Cụ túc cho chư Ni vào năm Nguyên Gia thứ mười một (元嘉十一年), tức năm 434(2).
Có thể nói, trong điều kiện giao thông thời bấy giờ, nếu như không có tấm lòng nhiệt thành vì đạo của chủ tàu buôn Nan-đề, chuyên chở chư Ni từ Tích Lan sang Trung Hoa và các chủ tàu buôn khác thỉnh ngài Cầu-na-bạt-ma (求那跋摩) từ Java (闍婆) sang, thì việc truyền thọ giới pháp đúng luật cho Tỳ-kheo-ni Đông Độ đã mang một diện mạo khác hẳn.
Liên quan đến việc nhờ thương thuyền để đi lại là trường hợp của ngài Pháp Hiển (法顯, 337-422). Cuộc đời của ngài nói chung và cuộc du hành đến đất Phật được bảo lưu trong tác phẩm Ghi chép về cõi nước của Phật (佛國記) hay còn gọi là Truyện của ngài Pháp Hiển (法顯傳). Đây là một trong những tài liệu sớm nhất và quý giá nhất về Phật giáo Ấn Độ cổ đại, được viết bằng chữ Hán sau khi ngài trở về quê hương.
Năm 399(3), ở tuổi trên sáu mươi, ngài Pháp Hiển cùng vài vị đồng tu khởi hành từ Trường An, vượt sa mạc Gobi, qua các nước Trung Á như Đôn Hoàng, Vu Điền (Khotan), vượt dãy Himalaya hiểm trở để đến Ấn Độ. Hành trình kéo dài khoảng 15 năm (399-414), ngài thăm viếng hầu hết các thánh tích Phật giáo quan trọng: từ các vương quốc phía Bắc Ấn (như Udyana, Gandhara), trung tâm như Mathura, Pataliputra (Patna), đến các nơi liên quan đến Đức Phật như Lumbini (nơi đản sinh), Bodh Gaya (thành đạo), Sarnath (chuyển pháp luân), Kushinagar (nhập Niết-bàn) và nhiều tu viện lớn.
Ngài ghi chép chi tiết về địa lý, phong tục, xã hội, đời sống Tăng đoàn, tình hình Phật giáo và các bộ phái, nghi lễ, sự thịnh hành của Đại thừa và Tiểu thừa, chùa chiền, tháp thờ xá-lợi, và cả các câu chuyện dân gian liên quan đến Phật tích. Sau khi lưu trú ở Ấn Độ hơn 10 năm, ngài đến Sri Lanka (Tích Lan) bằng đường biển và ở lại hai năm để học thêm Luật tạng, rồi trở về Trung Quốc bằng thương thuyền, qua Java rồi về Quảng Châu vào năm 414(4).
Mục đích chính của chuyến đi là thỉnh cầu các bộ Luật tạng (Vinaya) nguyên gốc vì lúc bấy giờ các văn bản luật tại Trung Hoa chưa đầy đủ. Tác phẩm không chỉ là hành trình cá nhân mà còn là nguồn sử liệu quý về xã hội, kinh tế, tôn giáo ở Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ V.
Trong tác phẩm nêu trên của ngài Pháp Hiển, có vài chi tiết đáng quan tâm, liên quan đến hoạt động của thương thuyền, việc hỗ trợ chở ngài và kinh sách về lại Trung Hoa. Theo mô tả của ngài Pháp Hiển, con thuyền chở ngài rất lớn, có thể chở đến 200 người (二百餘人) cùng với thương phẩm. Tuy nhiên, điểm khác biệt là thái độ của chủ tàu buôn đối với kinh sách và Phật tượng của ngài Pháp Hiển. Bởi lẽ, khi gặp bão to, thuyền bị xuyên thủng và nước tràn vào, thì các vị thương nhân trên tàu có những toan tính tà vạy. Ngài Pháp Hiển kể lại sự kiện này sau khi từ đảo Java (耶婆提, Yavadvipa) trở về Trung Hoa:
Pháp Hiển kiết hạ ở trên thuyền. Thuyền chạy về Đông Bắc hướng đến Quảng Châu. Sau hơn một tháng, vào khoảng canh hai thì gặp phải gió thổi mịt mù và mưa bão dữ dội. Các thương nhân và khách buôn đều hoảng loạn kinh sợ. Lúc ấy, Pháp Hiển cũng một lòng niệm danh hiệu Quán Thế Âm và Tăng chúng ở đất Hán, mong được oai thần gia hộ, đợi trời sáng. Khi trời sáng rồi thì các Bà-la-môn bàn bạc rằng: “Do vì chở vị Sa-môn này khiến chúng ta gặp bất lợi và chịu khổ lớn như thế. Nên bỏ vị Tỳ-kheo xuống một hòn đảo ven biển. Không thể vì một người mà khiến cả chúng ta gặp nguy hiểm”. Vị cư sĩ hộ đạo của ngài Pháp Hiển liền nói: “Nếu các ngươi bỏ vị Tỳ-kheo này xuống thì cũng phải bỏ ta xuống theo. Nếu không, các ngươi cứ việc giết ta đi. Nếu các ngươi bỏ vị Sa-môn này xuống thì khi đến đất Hán, ta sẽ tâu với quốc vương về việc các ngươi. Vua đất Hán cũng kính tin Phật pháp, trọng kính Tỳ-kheo Tăng”. Các thương nhân do dự, không dám bỏ ngài xuống(5).
Từ trường hợp của ngài Pháp Hiển, mặc dù hỗ trợ chở ngài cùng kinh sách và Phật tượng, nhưng khi gặp hiểm nguy thì chủ tàu buôn cũng như khách thương có những suy nghĩ tiêu cực, miễn sao họ được bình an còn nhà truyền giáo cũng như tự khí, Pháp bảo thì chẳng hề quan tâm đến.
Một trường hợp đặc thù liên quan đến Tăng sĩ Việt Nam, trong việc nương nhờ thương thuyền để vận chuyển kinh sách vào khoảng thế kỷ VII là câu chuyện của nhà sư Vận Kỳ (運期).
Ngài Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) trong Đại Đường Tây Vức cầu pháp Cao tăng truyện (大唐西域求法高僧傳) đã lược ghi vắn tắt về tiểu sử của vị Tăng này như sau:
Sư Vận Kỳ là người Giao Châu cùng du hành với Đàm Nhuận. Nương nhờ ngài Nhã-na-bạt-đà-la (若那跋陀羅, Jñānabhadra), được dịch nghĩa là Trí Hiền (智賢), người nước Ha-lăng (訶凌)(6), mà được thọ Cụ túc giới. Sau đó xoay vần ở Nam Hải hơn mười năm. Giỏi tiếng Côn Lôn và khá thông thạo tiếng Phạn. Về sau bèn hoàn tục, trú tại nước Thất Lợi Phật Thệ (室利佛逝, Srivijaya), đến nay vẫn còn tại đó(7). Sau đó lại qua lại trên biển cả mênh mông, truyền kinh đến kinh đô và phổ biến giáo pháp chưa từng được dạy trước đây, đều nhờ sức lực của người này. Tuổi khoảng bốn mươi(8).
Do vì cầu pháp với ngài Trí Hiền nên khi bổn sư Trí Hiền cùng với ngài Hội Ninh (會寧) cùng dịch Phần sau kinh Đại bát Niết-bàn (大般涅槃經後分)(9) thì sư Vận Kỳ được ủy thác mang bản kinh ấy về Trung Hoa.
Và cũng theo ngài Nghĩa Tịnh, sau khi Hội Ninh dịch được bản A Cấp Ma (Āgama), liền sai tiểu tăng Vận Kỳ (運期) mang biểu tấu và kinh sách quay về phủ Giao [Châu]. Từ đó dùng dịch trạm đưa về kinh đô, dâng lên triều đình, mong rằng những điều chưa được nghe biết sẽ lưu truyền rộng rãi ở Đông Hạ.
Vận Kỳ từ kinh đô [Trường An] về đến Giao Chỉ, thông báo cho các Tăng tục ở đó, được họ cúng dường cho hàng trăm tấm lụa nhỏ. Sau đó [Vận Kỳ] lại đến Ha-lăng để báo đáp ơn đức cho Trí Hiền (là Nhã-na-bạt-đạt-la) và gặp lại với ngài Hội Ninh(10).
Qua trường hợp của ngài Vận Kỳ đã cho thấy rằng, việc đi lại giữa Giao Châu và các quốc gia thuộc quần đảo Java ở thời ấy khá dễ dàng, nên ngài đã nhiều lần qua lại giữa hai nơi ấy; đặc biệt là đã vâng mệnh của thầy bổn sư dâng dịch phẩm kinh điền Phần sau kinh Đại bát Niết-bàn (大般涅槃經後分) lên triều vua Đường Cao Tông (唐高宗).
Mặc dù về sau, sư Vận Kỳ đã hoàn tục, nhưng những đóng góp của sư cho tôn sư Nhã-na-bạt-đà-la vẫn là minh chứng sống động cho sự hiện diện và sự hỗ trợ âm thầm từ các chủ tàu buôn. Chính nhờ sự tương trợ ấy, sư Vận Kỳ mới có thể theo đuổi chí nguyện xuất trần thượng sĩ ở buổi đầu, đồng thời thực hiện trọn vẹn lời ủy thác của tôn sư là mang dịch phẩm kinh điển về Trung Hoa.
Qua các trường hợp tiêu biểu như chủ tàu buôn Nan-đề (Nandi) nhiệt thành thỉnh giới sư Ni từ Tích Lan sang Trung Hoa năm 434 để hoàn thiện việc truyền thọ giới Cụ túc cho Ni chúng; hành trình gian nan của ngài Pháp Hiển nương nhờ thương thuyền lớn để mang Luật tạng nguyên gốc về Trung Quốc, dù gặp phải những toan tính tiêu cực từ thương nhân khi bão tố; và đặc biệt là câu chuyện của sư Vận Kỳ, là vị Tăng Giao Châu đã vâng mệnh bổn sư Nhã-na-bạt-đà-la (Jñānabhadra) từ nước Ha-lăng (訶凌) mang Phần sau kinh Đại bát Niết-bàn về dâng vua Đường Cao Tông, đã chứng tỏ một thực tế lịch sử: Sự truyền bá và phát triển của Phật giáo ở Trung Hoa cũng như Việt Nam không chỉ nhờ chí nguyện hoằng pháp của các bậc cao tăng, mà còn gắn bó mật thiết với vai trò hỗ trợ thầm lặng nhưng thiết yếu từ giới thương nhân và các chủ tàu buôn trên các tuyến hàng hải Ấn Độ Dương và Nam Hải.
----‐-------------
(1)Tỳ-kheo-ni truyện 比丘尼傳 (T.50. 2063.2. 0939c12).
(2)Tỳ-kheo-ni truyện 比丘尼傳 (T.50. 2063.2. 0941a20). Lưu ý thêm rằng, theo Cao tăng truyện, quyển 3, truyện ngài Cầu-na-bạt-ma (求那跋摩, 367-431), việc thọ giới lại cho chư Ni Trung Hoa khởi đầu từ sự thưa thỉnh của các Sư cô như Tuệ Quả, Tịnh Âm… (慧果、淨音等) với ngài Cầu-na-bạt-ma. Theo ngài, lúc bấy giờ chư giới sư Ni Tích Lan đang trú ở chùa Ảnh Phước chưa đủ túc số, nên phải cầu thỉnh thêm vài chư Ni Tích Lan mới đủ duyên đế kiến lập giới đàn. Tuy nhiên, đến ngày 28 tháng 9 năm Nguyên Gia thứ tám (431) thì ngài viên tịch. Việc kiến lập giới đàn sau đó được ngài Tăng-già-bạt-ma (僧伽跋摩) thực hiện tại chùa Nam Lâm (南林寺) vào năm 434.
(3)Cao tăng Pháp Hiển truyện 高僧法顯傳 (T.51. 2085. 0857a06). Nguyên tác: Năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ hai (弘始二年歲在己亥).
(4)Cao tăng Pháp Hiển truyện 高僧法顯傳 (T.51. 2085. 0866b23). Nguyên tác: Đó là năm Giáp Dần, đời nhà Tấn, niên hiệu Nghĩa Hy, năm thứ 12 vậy (是歲甲寅晉義熙十二年矣).
(5)Cao tăng Pháp Hiển truyện 高僧法顯傳 (T.51. 2085. 0866a16- 0866a26). Nguyên tác: 法顯於舶上安居。東北行趣廣州。一月餘日夜鼓二時遇黑風暴雨。商人賈客皆悉惶怖。法顯爾時亦一心念觀世音及漢地眾僧蒙威神祐。得至天曉。曉已諸婆羅門議言。坐載此沙門。使我不利遭此大苦。當下比丘置海島邊。不可為一人令我等危嶮。法顯檀越言。汝若下此比丘亦并下我。不爾便當殺我。如其下此沙門。吾到漢地當向國王言汝也。漢地王亦敬信佛法重比丘僧。諸商人躊躇不敢便下.
(6)Theo Phật tổ thống kỷ 佛祖統紀 (T.49. 2035.32. 0316a04), nước Ha-lăng 訶凌 (Kalingga) nằm kề cận Thất-lợi-phật-thệ 室利佛逝 (Srivijaya) và Mạt-la-du 末羅瑜 (Melayu).
(7)Thời điểm ngài Nghĩa Tịnh soạn Đại Đường cầu pháp Cao tăng truyện.
(8)Đại Đường Tây Vực cầu pháp Cao tăng truyện 大唐西域求法高僧傳 (T.51. 2066. 0004a22). Nguyên tác: 運期師者。交州人也。與曇[潤同遊。仗智賢受具。旋迴南海十有餘年。善崑崙音頗知梵語。後便歸俗住室利佛逝國。于今現在。既而往復宏波傳經帝里。布未曾教斯人之力。年可四十矣.
(9)Đại bát Niết-bàn kinh hậu phần 大般涅槃經後分 (T.12. 0377. 0900a03-0912a16).
(10)Đại Đường Tây Vực cầu pháp Cao tăng truyện 大唐西域求法高僧傳 (T.51. 2066. 0004a11):. Nguyên tác: 會寧既譯得阿笈摩本。遂令小僧運期奉表齎經還至交府。馳驛京兆奏上闕庭。冀使未聞流布東夏。運[7]期從京還達交阯。告諸道俗蒙贈小絹數百疋。重[8]諂訶陵報德智賢(若那跋達羅也)與會寧相見。
(NSGN - 359)
