Học Phật, khiến ta vững chãi hơn trong cuộc đời…

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
0:00 / 0:00
0:00
GNO - Trong cuộc trò chuyện với anh Nguyễn Doãn Điệp, Ths quản trị kinh doanh - Trường Kinh doanh Shidler - Đại học Hawaii (Hoa Kỳ), hiện là giám đốc Công ty TNHH Linh Cosmetics, điều khiến phóng viên ấn tượng không chỉ là kinh nghiệm kinh doanh quốc tế mà còn là chiều sâu đời sống tâm linh của một người thành đạt.
Anh Nguyễn Doãn Điệp - Ảnh: NVCC

Anh Nguyễn Doãn Điệp - Ảnh: NVCC

Anh Điệp trải lòng với Giác Ngộ:

- Tôi đến với đạo Phật theo cách rất tự nhiên, như đến với cội nguồn văn hóa Việt. Từ những buổi theo ông lên sân chùa trú mát, từ tiếng “Nam-mô A Di Đà Phật” vang lên trong lời khấn của ông bà mỗi dịp Tết, một hạt giống niềm tin đã nảy mầm trong anh từ thuở thiếu thời. Đến khi trưởng thành, trải qua không ít thăng trầm, anh lại tìm về Phật pháp như một điểm tựa vững vàng để giữ sự bình an nội tâm. Chính những trải nghiệm đọc kinh, nghe pháp, hành trì đơn sơ đã giúp anh phục hồi năng lượng, tìm lại sự cân bằng trong đời sống bận rộn hôm nay.

Tư duy học thuật và trải nghiệm tâm linh

* Nhiều trí thức thường đến với Phật học bằng con đường lý trí và tri thức, nhưng kinh điển lại nhấn mạnh “trực nhận” và “thực chứng”. Theo anh, điểm giao thoa - và cả sự va chạm - giữa tư duy học thuật và trải nghiệm tâm linh nằm ở đâu?

- Tôi thấy hai phương pháp học được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống chứ không riêng gì Phật học. Chẳng hạn, sinh viên được học về các thuyết về quản trị, về marketing, tài chính,… ở nhà trường. Đó là một cách học. Tuy nhiên cũng có một số người thì họ học bằng các trải nghiệm thực tế, họ trực tiếp va chạm với thực tế và rút ra cho mình những bài học. Và cả hai cách này đều có những vai trò quan trọng trong quá trình học hỏi của chúng ta.

Lần đầu tiên tôi được nghe về triết lý Phật giáo là hồi sinh viên đại học. Trong môn Triết học, khi giảng về lịch sử triết học phương Đông, giảng viên có đề cập đến tư tưởng Phật giáo, trong đó có nói tới Tứ diệu đế và Bát chánh đạo. Lúc đó nghe thì cũng thấy hay, có lý, nhưng mà chỉ biết vậy thôi chứ không hiểu lắm. Sau này khi đi làm và trải qua các biến cố trong cuộc sống, tôi có duyên tìm hiểu Phật giáo bằng việc đọc thêm sách và suy nghĩ, đối chiếu với những trải nghiệm của bản thân. Quá trình đó được lặp đi lặp lại một cách tự nhiên. Cứ như vậy, theo thời gian tôi cảm và hiểu triết lý Phật giáo ở các mức độ khác nhau. Có thể thấy, ban đầu tôi đến với Phật học bằng con đường lý trí và tri thức. Nhưng sau đó tôi hiểu hơn cái lý thuyết đó nhờ “trực nhận” và “thực chứng”.

Vì vậy, cá nhân tôi nhận thấy hai con đường đến với Phật học mà anh đặt ra không mâu thuẫn hay va chạm mà là hỗ trợ cho nhau, giúp người học hiểu và cảm nhận tốt hơn về Phật giáo. Con đường lý trí và tri thức giúp chúng ta hiểu được căn bản các khái niệm của Phật giáo. Chẳng hạn, thông qua phương pháp lý trí và tri thức ta có thể hiểu được logic của Tứ diệu đế cũng như Bát chánh đạo. Tuy nhiên, khi tiếp cận bằng “trực nhận” và “thực chứng” sẽ giúp ta cảm nhận ở mức sâu sắc hơn các ý nghĩa mà ngôn ngữ không thể diễn đạt được hết. Cũng như đọc một cuốn sách, một tư tưởng nào đó, ở các thời điểm khác nhau thì cái hiểu và cảm của chúng ta sẽ là khác nhau, mặc dù về mặt ngôn ngữ thì biểu hiện vẫn vậy. Mối quan hệ giữa hai phương pháp học này tựa như mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành. Cả hai bổ trợ và củng cố cho nhau. Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng “lý thuyết luôn luôn màu xám, cây đời mãi mãi xanh tươi”. Khi đã tiếp cận bằng lý trí và tri thức rồi thì cần phải áp dụng vào trực nhận của bản thân. Cuộc sống mình thay đổi chỉ khi những điều chân lý được áp dụng vào đời sống của mình.

* Trong quá trình tiếp cận Phật học, anh từng có giai đoạn “hiểu” nhưng chưa “chuyển”, biết giáo lý nhưng chưa áp dụng được vào đời sống? Điều gì đã giúp anh vượt qua khoảng cách giữa tri kiến và hành trì?

- Đây là điều tự nhiên. Có những giai đoạn tôi tiếp cận Phật học và thấy rằng mình hiểu (thực chất cái hiểu chỉ là hiểu trên logic của ngôn từ). Nhưng cái hiểu đó được cảm nhận khác nhau trong từng giai đoạn của cuộc sống mà tôi trải qua. Lúc 20 tuổi tôi hiểu, cảm nhận ý nghĩa của Tứ diệu đế khác với hiện tại. Và chắc chắn 5 năm, 10 năm nữa cái hiểu của tôi cũng sẽ khác hiện nay. Đó là bởi vì trong quá trình liên hệ, vận dụng vào cuộc sống, công việc thì mức độ hiểu và cảm sẽ sâu sắc hơn.

Thực sự thì tôi không suy nghĩ quá nhiều hay tự áp lực bản thân về khoảng cách giữa “hiểu” và “chuyển”. Vì những tư tưởng Phật giáo vận động cùng với những trải nghiệm bản thân của tôi một cách tự nhiên. Rồi một ngày nhìn lại, tôi tự thấy rằng mình đã được “chuyển” hơn trước kia một chút. Tôi không phải là người ăn chay hay tu tập một cách bài bản, hệ thống, mà chỉ là người cố gắng thực hiện tốt nhất có thể các vai trò của mình trong cuộc sống. Trong quá trình thực hiện các vai trò đó thì tư tưởng Phật giáo góp phần định hình suy nghĩ và hành động của mình. Cái “chuyển” trong tôi diễn ra vừa chủ động, vừa tự nhiên như vậy.

Chánh kiến, Chánh tư duy là kim chỉ nam

* Các trí thức hiện đại thường chịu áp lực thành tựu, danh vọng, tốc độ, cạnh tranh. Phật pháp giúp anh hóa giải “căn bệnh thời đại” này như thế nào mà không rơi vào thái độ buông xuôi hay yếm thế?

- Tất cả những điều anh đề cập là những thực tế của cuộc sống, ở góc độ nào đó nó là động lực của sự phát triển xã hội. Dĩ nhiên những điều đó tạo ra sự căng thẳng và áp lực. Tôi không cho rằng mình đã hóa giải được các vấn đề anh đề cập. Hàng ngày, tôi vẫn phải suy nghĩ về khả năng cạnh tranh, về lợi nhuận, chi phí, về sự tăng trưởng... của doanh nghiệp mà tôi đang dẫn dắt.

Phật giáo không phải là phép màu giúp thay đổi sự thật khách quan. Triết lý đạo Phật, như đã nói, góp phần hình thành phương pháp tư duy để tôi có thể sống chung những sự thật, những áp lực đó một cách hòa bình, nhẹ nhàng. Tôi không dám dùng từ mà nhiều người hay dùng, đó là trạng thái “an yên”, nhưng quả thực tư tưởng Phật giáo giúp tôi hướng đến trạng thái như vậy.

Xin ví dụ về vấn đề cạnh tranh, nhiều người thường cảm thấy mất ăn mất ngủ khi người khác, doanh nghiệp khác hơn mình một chút. Chẳng hạn đã từng có hai doanh nghiệp sữa so kè với nhau từng chút về các thông điệp được quảng cáo trên các banner đối diện nhau ở ngã tư đường tại TP.HCM. Họ bị cuốn vào hành động của đối phương, phải nghĩ cách để phản bác và hạ bệ những gì đối phương nói. Đôi khi như vậy làm mất đi bản sắc của chính mình. Tư tưởng Phật giáo có thể giúp ta tránh được trạng thái như thế này. Khi có Chánh kiến, Chánh niệm, Chánh tư duy mình sẽ thấy rằng bản chất tốt đẹp của sự cạnh tranh không phải là những thông điệp hay hành động vùi dập lẫn nhau. Mà cạnh tranh là quá trình nỗ lực không ngừng để đem tới những giá trị tốt nhất cho khách hàng trong điều kiện khả dĩ của mình. Như vậy, thay vì bị đắm chìm trong hành động của người khác (đắm chìm trong khổ) thì ta nhìn vào bản thân và doanh nghiệp mình để không ngừng hoàn thiện, để ngày một trở nên tốt hơn, đem lại giá trị cho khách hàng, cho xã hội. Khi đó chắc chắn sẽ có những khách hàng đến và gắn bó với mình.

Có thể thấy, đạo Phật không phải đưa con người ta đến sự buông xuôi hay yếm thế. Đạo Phật cũng không phải là một phép màu theo nghĩa giúp ta đạt được những mong cầu của đời sống. Triết lý của đạo Phật chỉ cho ta con đường đến với chân lý khách quan, chuyển hóa nội tâm để hướng tới trạng thái an yên. Đạo Phật là đạo của giải thoát, theo tôi cũng là ở ý nghĩa này.

* Trong bối cảnh mạng xã hội lan truyền vô số nội dung tâm linh, có khi lệch Phật pháp, theo anh người trí thức học Phật cần thái độ và phương pháp tiếp cận như thế nào để không rơi vào “tín ngưỡng hóa”, mà vẫn nuôi dưỡng được niềm tin và tuệ giác?

- Tứ diệu đế chỉ cho ta cách nhìn, thái độ với các sự việc trong cuộc sống; Bát chánh đạo chỉ cho ta con đường để rèn luyện và chuyển hóa nội tâm. Như vậy bản thân triết lý đạo Phật đã giúp ta có cách tiếp cận khoa học. Do vậy, theo tôi người học Phật với thái độ tinh tấn tự họ sẽ có khả năng tránh được trạng thái “tín ngưỡng hóa” hay “mê tín”.

* Trí thức thường có cái tôi mạnh, thói quen phân tích, phản biện. Khi học Phật, đặc biệt là tiếp cận giáo lý vô ngã, anh đối diện và chuyển hóa bản ngã như thế nào? Có khoảnh khắc nào khiến anh “buông” sâu hơn?

- Khả năng phân tích, phản biện là năng lực quan trọng trong tư duy, theo tôi nó không phải là sự cản trở trong con đường học Phật. Chính năng lực này giúp chúng ta tránh rơi vào trạng thái “mê tín” khi tiếp cận Phật pháp. Còn về bản ngã, bên trong mỗi người, dù cho anh là ai cũng đều có cái bản ngã nhất định.

Vấn đề anh hỏi rằng tôi đã đối diện và chuyển hóa bản ngã của mình như thế nào thì như đã nói lúc nãy, những tư tưởng Phật giáo vận động cùng với những trải nghiệm bản thân của tôi một cách tự nhiên, và quá trình chuyển hóa bản ngã của tôi cũng diễn ra như vậy. Tôi không thể xác định được tôi đã chuyển hóa từ lúc nào, chuyển hóa nhiều hay ít. Chỉ một ngày nào đó, khi tự nhìn lại thì thấy mình đã chuyển hơn. Tôi chưa thực sự chuyển hóa được hoàn toàn cái bản ngã của mình, vẫn còn tham, sân, si... Chỉ khác với trước khi tiếp xúc với Phật pháp thì hiện tại tôi quan sát và ý thức được cái chấp ngã của mình. Mỗi lúc ý thức như vậy, tôi lại kiểm soát tâm mình tốt hơn một chút. Có thể gọi đây là sự tinh tấn theo tinh thần của nhà Phật.

Còn anh hỏi, có khoảnh khắc nào khiến tôi “buông” sâu hơn, xin thú thật rằng tôi chưa có được trạng thái như vậy. Mình còn phải tinh tấn hơn nữa.

Học Phật giúp hiểu mình, hiểu người để sống chan hòa

* Anh ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống, công việc ra sao?

- Phật không chỉ ra giải pháp cụ thể cho các vấn đề trong cuộc sống. Nhưng những lời dạy của Người chỉ cho ta phương pháp tư duy để từ đó tự mình tìm được giải pháp phù hợp. Trước đây tôi là người rất dễ nóng giận và trút giận lên người khác. Nhưng khi tôi quan sát và nhận thức được cảm xúc của mình thì sự nóng giận đó được kiềm chế. Tôi không nói rằng mình không còn nổi sân, nhưng ít ra cái sân trong tôi đã giảm nhiều và được kiểm soát để nó không dắt mình đi quá xa. Giáo lý về sự vô thường, vô ngã cũng giúp tôi biết cách thấu cảm với những người quanh mình và hạ cái tôi của mình xuống.

Trong công việc, khi nhìn sự việc bằng quan niệm Duyên khởi giúp tôi thấy bình thản trước những trở ngại diễn ra trong cuộc sống của mình. Quan niệm Duyên khởi cho rằng mọi việc xảy ra đều có nhân duyên, cái này là điều kiện của cái kia. Ví dụ, nếu không trải qua khổ thì người ta sẽ không cảm nhận được niềm vui. Một người sau khi trải qua cơn đau bệnh sẽ biết quý trọng thân thể của mình. Công việc của tôi không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Nhưng mỗi khi gặp khó khăn tôi thường nhìn lại và đánh giá bản thân, đánh giá công việc, cùng mọi người tìm hiểu và học hỏi những điều mới. Cứ như vậy, doanh nghiệp của tôi tốt dần lên từng chút. Bởi vậy, triết lý về Duyên khởi sẽ giúp ta trân trọng cả những điều khó khăn chứ không phải chỉ biết ơn những điều đem đến cảm giác dễ chịu.

* Nếu phải gửi gắm một thông điệp đến những người có học vấn cao nhưng đang lúng túng giữa “tự tin của tri thức” và “khiêm cung của giác ngộ”, anh sẽ nói điều gì về con đường học Phật trong thời đại hôm nay?

- Tôi không dám khuyên người khác. Bởi vì những gì tôi nghĩ, tôi cho là đúng đôi khi chỉ là phù hợp với bản thân tôi tại một thời điểm nhất định. Khi một người có tinh tấn, thì bất kể họ có học vấn cao hay thấp cũng sẽ tự mình tìm được con đường học tập phù hợp.

Tôi tin vào nhân duyên. Khi mình thực sự mong muốn và cố gắng thì sẽ có những duyên khởi dẫn dắt mình đi.

“Khả năng phân tích, phản biện là năng lực quan trọng trong tư duy, theo tôi nó không phải là sự cản trở trong con đường học Phật. Chính năng lực này giúp chúng ta tránh rơi vào trạng thái ‘mê tín’ khi tiếp cận Phật pháp. Còn về bản ngã, bên trong mỗi người, dù cho anh là ai cũng đều có cái bản ngã nhất định”.

Nguyễn Doãn Điệp

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Thông tin hàng ngày