Trong truyền thống về sau, Khổng Tước Minh Vương là một pháp tu phổ biến trong cả hai hình thức Kim Cương thừa của Trung Quốc và Nhật Bản. Khổng Tước Minh Vương cũng là tên của một trong năm vị nữ thần bảo hộ của Phật giáo(1).
Trong Phật giáo Trung Quốc và Phật giáo Chân ngôn tông, người ta tin rằng vị vua khổng tước là hiện thân của Đức Phật Vairocana/Đại Nhật Như Lai hoặc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Được coi là hiện thân của Đại Nhật Như Lai vì hình tướng xòe đuôi của chim công thường được cho là biểu tượng của mặt trời. Còn việc chim công là hiện thân của Phật Thích Ca Mâu Ni bắt nguồn từ một tiền kiếp của Đức Phật là chim công, được ghi chép trong kinh Bổn sinh/Jataka. Công đức chính của Ngài bao gồm việc loại bỏ độc tố, bệnh tật, bảo vệ đất nước, xua tan thảm họa/điều bất hạnh cũng như khả năng cầu mưa và ngừng mưa.
![]() |
Mahamayuri, mỹ thuật đương đại |
Tên gọi và nguồn gốc
Khổng Tước Minh Vương, Phạn: Mahamayuri hay Mahamayuri Vidyarajni, Trung Quốc: Kongque Mingwang; Nhật Bản: Kujaku Myoo; Hàn Quốc: Gongjak Myeongwang; Việt Nam: Khổng Tước Minh Vương. Hán âm là Ma-ha-ha-ma-du-lợi-la-xà; còn gọi là Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương, Phật Mẫu Khổng Tước Đại Minh Vương, Phật Mẫu Đại Kim Diệu Khổng Tước Minh Vương, Khổng Tước Vương. Mật hiệu: Phật Mẫu Kim Cương hoặc Hộ Thế Kim Cương, hình Tam-muội-da là lông công(2).
Tên tiếng Phạn Mahamayuri có nghĩa là “chim công lớn”, “chim công mái lớn”. Được biết đến như là “Vị nữ hoàng của huyền học” và “Mẹ đỡ đầu của Đức Phật”, Mahamayuri được cho là có sức mạnh bảo vệ các tín đồ khỏi bị nhiễm độc/đầu độc, dù là về thể chất hay tinh thần. Hay vì vị Minh Vương này ngồi trên khổng tước (con công), nên có tên Khổng Tước Minh Vương(3).
Nguồn gốc của Khổng Tước Minh Vương được cho là bắt nguồn từ vị nữ thần Ấn Độ cùng tên Mahamayuri. Khổng Tước Minh Vương là một trong những vị thần Pancaraksa (Ngũ hộ) của Nepal, ở đó Khổng Tước Minh Vương là vị thủ lĩnh của năm raksa (ngũ hộ, phòng hộ bản thân để tránh những tính khí và thói quen bất thiện) trong hình dạng năm chiếc lọng, chiếm vị trí ở phía Bắc. Không giống như bốn người bạn đồng hành trong Pancaraksa, Khổng Tước Minh Vương dường như có một hệ thống thờ cúng tôn giáo khá phát triển ở Ấn Độ(4).
Ngoài ra, Thần Kumara (Vi-đà thiên Skanda là một thần chiến tranh, là Hỏa tinh và là con trai cả của Thần Siva) cũng có vật cưỡi là một con chim công mà con công đồng nhất với năng lượng mặt trời. Người ta còn nói rằng trong trường hợp này, con công tượng trưng cho sự tuyệt diễm và quyền năng biến hóa, bởi vì vẻ đẹp của bộ lông vũ của nó được giả định là được tạo ra bởi sự biến hóa tự nhiên từ chất độc của những con rắn mà nó nuốt khi tiêu diệt chúng. Có lẽ ở đây chúng ta bắt gặp một biểu tượng về sự bất tử. Ở Ấn Độ, người ta giải thích như vậy, không kể việc chính Skanda biến hóa các độc tố thành nước uống bất tử(5). Ở đây hẳn là thần chiến tranh Skanda chính là mẫu hình khởi nguyên của Khổng Tước Minh Vương.
Trong Mạn-đà-la Thai tạng giới, Khổng Tước Minh Vương là vị thần thứ sáu ở đầu phía Nam của viện Tô-tất-địa(6).
Hình tượng
Trong Phật giáo, mặc dù được liên kết với các vị Minh Vương, Khổng Tước Minh Vương có khuynh hướng được miêu tả với vẻ mặt nhân từ hơn là phẫn nộ của những hiện thân Minh Vương nam nhân(7). Hình tướng của ngài trang nghiêm, hiền từ, hòa nhã.
Theo Đại Khổng Tước Minh Vương họa tượng đàn trường nghi quỹ thì Khổng Tước Minh Vương có một đầu bốn tay, ngồi trên hoa sen tám cánh, mặt trắng, thân mặc áo trắng (thân sắc màu trắng, tượng trưng cho các pháp đều thanh tịnh, không bị ô nhiễm), đầu đội thiên quan/mũ hoa, mình đeo các đồ trang sức quý báu như chuỗi ngọc trang nghiêm, phối hợp các trang sức như vòng tay, khuyên tai…, cưỡi trên khổng tước vương sắc vàng. Với mặt trăng làm nền, Khổng Tước Minh Vương mặc trang phục thanh thoát, ngồi ở tư thế bán già (vajrasana: tư thế kim cương)(8). Hình tượng bốn tay là hình tượng thường thấy của Khổng Tước Minh Vương. Bên cạnh đó, các trì vật của Khổng Tước Minh Vương mang những ý nghĩa như sau: 1. Hoa sen nở cầm trong tay thứ nhất bên phải của Khổng Tước Minh Vương biểu trưng cho sự thanh tịnh của trí tuệ Khổng Tước Minh Vương, đại diện cho kính ái. Ngoài ra, hoa sen nở xòe, có đủ hoa quả, còn đại diện cho chứng ngộ quả đức, có đầy đủ trí tuệ phúc đức trang nghiêm. 2. Quả cụ duyên cầm trong tay thứ hai bên phải của Khổng Tước Minh Vương. Quả cụ duyên còn gọi là duyên quả, quả câu duyên, quả thanh yên, dịch âm là ma-đăng-long-già, ma-độc-long-già, hình giống quả đu đủ hoặc quả bưởi, tượng trưng cho khả năng có thể ban cho tất cả mọi ước mong, có ý nghĩa điều phục. 3. Quả cát tường trong tay thứ nhất bên trái của Khổng Tước Minh Vương. Quả cát tường tức là quả thạch lựu, còn gọi là quỷ bố mộc, có người cho là quả ổi, tượng trưng cho khả năng ban cho mọi mong muốn của ngài, có nghĩa là tăng ích. Cũng do cây này hoa ít quả nhiều, nên còn có ý nghĩa là tu hành ít nhưng được kết quả lớn. 4. Lông đuôi công (ba hoặc năm chiếc) trong tay thứ hai bên trái của Khổng Tước Minh Vương, biểu trưng cho sức mạnh xua tan độc tố và bệnh tật, trong Phật giáo thường dùng lông đuôi công để làm phất trần có tác dụng làm sạch, do đó, lông đuôi công có ý nghĩa là tức tai.
Còn có một loại Khổng Tước Minh Vương hai tay, tay trái cầm hoa sen, tay phải cầm lông đuôi khổng tước. Ngoài ra, Khổng Tước Minh Vương còn có các loại hình tượng hai tay, sáu tay, tám tay, trong tay cầm quả Phật thủ, quả cát tường, hoa sen, nguyệt luân...
Ngoài ra, tượng Khổng Tước Minh Vương trong hang đá ở Long Cương sơn, Đại Túc, tỉnh Tứ Xuyên có vẻ mặt thanh tú, đoan trang, ngồi kiết-già trên tòa sen ba tầng, đầu đội bảo quan, cổ đeo vòng ngọc, có bốn tay. Hai tay trên, một tay đỡ ma-ni bảo châu, một tay đỡ bản vuông, sau lưng có bình phong...(9).
Hay Khổng Tước Minh Vương có ba khuôn mặt và sáu tay.
Vị Minh Vương này là thân đẳng lưu của Tỳ Lô Giá Na Như Lai, có đức nhiếp thủ và hàng phục nên tòa ngồi của vị này, nếu là tòa sen trắng thì biểu thị cho bản thệ từ bi nhiếp thủ, còn tòa sen xanh thì biểu thị cho hàng phục(10).
Ở đây, Khổng Tước Minh Vương ngồi xếp bằng trên bảo tọa hoa sen, dưới bảo tọa là vật cưỡi - một con công rất đẹp. Tòa sen tượng trưng cho bản thệ có thể thu hút lòng từ bi của ngài, nhưng công lại sinh sống bằng cách ăn côn trùng độc, do đó, Khổng Tước Minh Vương dùng công làm vật cưỡi, tượng trưng đoạn tuyệt tất cả phiền não, ác độc. Bảo tọa là vật cưỡi chim công được gọi là Khổng tước tòa, Phạn: Mayurasana. Ngoài Minh Vương Phật Mẫu Khổng Tước còn có Đức Phật A Di Đà chủ bộ Liên hoa, thường ngồi trên tòa này. Ngoài ra, trong hiện đồ mạn-đà-la Thai tạng giới và Kim cang giới, Cưu-ma-la thiên cũng ngồi trên tòa Khổng tước(11).
Theo Bardo - Thodol, con công là cái ngai của Phật A Di Đà, ứng với màu đỏ và yếu tố lửa; và có lẽ biểu thị “vô lượng quang”(12). Chim công/khổng tước là loại chim tượng trưng cho điềm lành, hình dáng xinh đẹp và lông nó có nhiều màu, cho nên tòa ngồi được làm theo hình dáng của loài chim này để biểu thị cho ý nghĩa chuyển đại pháp luân(13). Trong các học thuyết bí truyền, con công là tượng trưng của tổng thể, do nó tập hợp tất cả các màu sắc ở cái đuôi khi nó trải ra thành hình quạt. Nó biểu thị sự đồng nhất về bản chất của tổng thể các hiện tượng và tính vô thường của chúng, bởi vì chúng xuất hiện và biến mất cũng nhanh như con công xòe và thu đuôi lại. Bên cạnh đó, trong các Jakata (truyện tiền thân của Đức Phật), con công là một hóa thân của Bồ-tát giáng trần để khuyên dạy người đời từ bỏ những ràng buộc thế tục(14).
Truyền thuyết
Theo truyền thuyết, vào thời nguyên thủy, phượng hoàng, thủ lĩnh của các loài sinh vật biết bay, đã sinh ra chim công khổng tước và chim đại bàng Kim sí điểu. Chim công đã từng ăn thịt Đức Phật ở một trong những tiền kiếp của Ngài. Đức Phật đã thoát ra bằng cách cắt bụng chim công. Vào thời điểm đó, con người là món mồi ngon mà chim công săn lùng, và Đức Phật có ý định giết chết nó. Tuy nhiên, các vị thần đã can thiệp và thuyết phục Ngài dừng lại. Để đổi lấy lời hứa từ bỏ thói quen săn con người làm mồi, Đức Phật đã nâng chim công lên vị trí mẹ đỡ đầu của Ngài, trong khi chim đại bàng trở thành chú của Ngài và được ban cho một vị trí cao trên cõi trời.
Trong Mahamayuri Tantra, có nói rằng Khổng Tước Minh Vương đã hóa thân thành nhiều hình dạng khác nhau để hỗ trợ Đức Phật, bao gồm cả việc hóa thân thành hình dạng con người của hoàng hậu Maya(15).
Khổng Tuyên, một linh vật chim công trong tiểu thuyết Phong thần diễn nghĩa (Fengshen Yanyi) của triều đại nhà Minh, dựa trên hình tượng của Khổng Tước Minh Vương. Khổng Tuyên xuất hiện như một vị tướng quyền lực dưới quyền vua Chu của nhà Thương.
Tây du ký
Tiểu thuyết Trung Quốc thế kỷ XVI, Tây du ký, có một câu chuyện về vị vua của vương quốc Chư Kỵ có sở thích săn bắn khi còn là một hoàng tử trẻ. Một ngày nọ, ông vô tình giết chết hai người hầu cận của Khổng Tước Minh Vương. Sau đó, Khổng Tước Minh Vương nói rằng để trả giá cho điều này, hoàng tử sẽ phải chịu tương tư/thất tình trong ba năm. Vào thời điểm đó, con ngựa Kim Mao Hầu của Bồ-tát Quán Thế Âm đã đi ngang qua và nghe được điều này. Nhiều năm sau, khi hoàng tử đã trưởng thành và trở thành quốc vương, Kim Mao Hầu lợi dụng đứa trẻ canh giữ mình ngủ thiếp đi đã trốn đến cõi trần, trở thành vua yêu ma và bắt cóc nữ chủ nhân của Kim Thánh Cung nương nương, một trong những phi tần được nhà vua sủng ái và ép nàng phải kết hôn với hắn. Nhớ thương về người phụ nữ, đã khiến nhà vua mắc chứng tương tư/thất tình trong ba năm.
![]() |
Mahamayuri (Kujaku Myoo) từ Taisho Shinshu Daizoky |
Mahamayuri Vidyarajni Sutra/Khổng Tước Minh Vương kinh
Theo Mahamayuri Vidyarajni Sutra/Khổng Tước Minh Vương kinh, vào thời Đức Phật, có một vị Tăng tên là Sa-để. Mặc dù mới xuất gia, ông đã thọ giới và siêng năng nghiên cứu giới luật. Trong khi đang đi kiếm củi và chuẩn bị nước tắm cho các vị sư khác, Sa-để đã gặp phải một tình huống nguy hiểm khi một con rắn đen lớn chui ra từ cái bọng trên một cái cây mục nát và cắn vào ngón chân cái bên phải của ông. Nọc độc nhanh chóng lan khắp cơ thể, khiến ông ngã gục xuống đất bất tỉnh, sùi bọt mép, mắt trợn ngược.
Ngài A-nan, khi chứng kiến cảnh đau thương, đã nhanh chóng tìm đến sự cứu giúp của Đức Phật. Đáp lại, Đức Phật đã chỉ cho A-nan về chân ngôn hiệu nghiệm của Đức Phật Mẫu Khổng Tước (đại công), nhấn mạnh khả năng chống lại chất độc, xua tan nỗi sợ hãi, ngăn chặn tai họa, bảo vệ và nuôi dưỡng tất cả chúng sinh, dẫn họ đến hạnh phúc. Đức Phật tiếp tục truyền Khổng Tước Minh Vương kinh/Mahamayuri Vidyarajni cho ngài A-nan, người đã nhanh chóng quay lại với Sa-để và sử dụng chân ngôn để chữa bệnh. Nhờ sức mạnh của chân ngôn, chất độc đã tiêu tan và Sa-để tỉnh lại, hoàn toàn khỏe mạnh. Giải thích cho tầm quan trọng của chân ngôn, Đức Phật đã chỉ dẫn A-nan truyền bá chân ngôn này trong tất cả chúng sinh, mang đến sự bảo vệ khỏi nguy hiểm và cơ hội đạt được hạnh phúc. Kinh Khổng Tước Minh Vương là một bản kinh Đại thừa truyền bá chân ngôn của Đức Phật Mẫu Khổng Tước. Chân ngôn này được cho là có khả năng bảo vệ khỏi nguy hiểm, làm giảm bệnh tật và mang lại hạnh phúc. Được các môn đồ Phật giáo Đại thừa chấp nhận rộng rãi, chân ngôn này thường được tụng niệm như một phương tiện thực hành tâm linh.
Đức Phật truyền dạy Khổng Tước Minh Vương kinh với mục đích cụ thể là giải quyết những thách thức đa dạng mà chúng sinh phải đối mặt. Theo kinh sách, cả tài liệu thư tịch và chân ngôn đều có sức mạnh phi thường để làm giảm bớt bệnh tật, đau khổ và sợ hãi trong khi đóng vai trò là lá chắn bảo vệ cho tất cả chúng sinh. Hướng dẫn A-nan truyền bá rộng rãi kinh và chân ngôn này, Đức Phật nhắm đến mục đích giải thoát chúng sinh khỏi khổ đau và dẫn dắt họ đạt được hạnh phúc.
Tương truyền xa xưa, trên núi Tuyết, có một vua công lớn màu vàng kim trì tụng lời chú của Khổng Tước Minh Vương và có được sự yên ổn lâu dài. Nhưng một lần do quá tham lam hưởng lạc, vua công mải mê vui đùa với các công mái khác trong núi, quên mất trì tụng chân ngôn, do đó bị người thợ săn bắt được. Vua công liền hồi phục chánh niệm, trì tụng lời chú của Khổng Tước Minh Vương, cuối cùng thoát khỏi dây trói, giành lại tự do(16).
Nhận ra hiệu quả to lớn của chân ngôn này, Đức Phật đã thấy được khả năng của nó trong việc giảm nhẹ những tội lỗi nghiêm trọng, xóa bỏ những hành vi sai trái nhỏ và xua tan mọi hình thức khổ đau. Vì lòng từ bi, Đức Phật đã chia sẻ sự diệu dụng chân ngôn này với tất cả chúng sinh, hình dung rằng việc tụng niệm liên tục chân ngôn sẽ mang đến cho các cá nhân quyền năng vượt qua nỗi sợ hãi, vượt qua đau khổ, liên tục thu hút may mắn, tránh khỏi nguy hiểm, sống trường thọ và viên mãn.
Còn có một thuyết khác, công vốn là thiên thần mà bộ tộc Ma-kiệt-đà (Magadha) ở Ấn Độ cổ tôn sùng, gọi là Khổng Tước Vương Thần. Về sau, khi vua A Dục (Asoka) xiển dương Phật pháp, đã đưa lên làm thần bảo vệ của toàn bộ Phật giáo, đồng thời trong quá trình truyền bá Phật giáo lại kết hợp với hình tượng của vua công, trở thành Khổng Tước Minh Vương.
Chủng tử tự: Ma hoặc Yu.
Chân ngôn của Khổng Tước Minh Vương là: Om Mayurakrante Svaha.
Ý nghĩa: Quy mệnh, Khổng Tước bất năng triệu, thành tựu(17).
Kinh điển và pháp tu
Kinh điển
Tài liệu thư tịch vềKhổng Tước Minh Vương là một bản kinh thuộc thể loại dharani/đà-la-ni của Phật giáo, chứa đựng những câu thần chú để chữa rắn cắn, độc tố và những bệnh tật khác(18). Đà-la-ni của Khổng Tước Minh Vương đã được Kumārajīva/Cưu-ma-la-thập dịch sang Hán ngữ trong khoảng những năm 402 và 412 CN(19).
Khổng Tước Minh Vương kinh, Phạn: Mahamayuri-vidyarajni, còn gọi: Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương kinh, Khổng Tước kinh, gọi đủ: Phật Mẫu Đại Kim Diệu Khổng Tước Minh Vương kinh. Kinh gồm 3 quyển do ngài Bất Không dịch vào đời Đường, được xếp vào Đại Chánh tạng tập 19.
Nội dung thuật lại câu chuyện ngài A-nan thấy tân Tỳ-kheo Svati (Sa-để) bị rắn cắn chân sắp chết nên cầu Phật từ bi cứu hộ. Phật liền dạy ngài A-nan tụng đại đà-la-ni Phật Mẫu Minh Vương thì cứu được Tỳ-kheo Sa-để (như đã đề cập ở trước). Ngoài ra, kinh này còn nói các vị thần Tinh tú, Dược-xoa, chư Phật quá khứ, v.v. nhờ tụng đà-la-ni này mà xa lìa được tất cả sự sợ hãi và được phước đức.
Đồng bản dị dịch của kinh này có: kinh Khổng Tước Vương chú (2 quyển) do ngài Tăng-già-bà-la dịch vào đời Lương, kinh Đại Khổng Tước chú vương (3 quyển) do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường.
Pháp tu Khổng Tước Minh Vương kinh trong Mật giáo là y cứ vào kinh này(20).
Và Khổng Tước kinh âm nghĩa, 3 quyển, do ngài Quán Tĩnh người Nhật soạn, được xếp vào Đại Chánh tạng tập 61. Đây là bản sớ giải kinh Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương của ngài Bất Không. Nội dung có 3 phần: đại ý, giải thích đề mục và giải thích văn kinh. Sách mà bộ này dùng để trích dẫn gồm 130 bộ kinh, Mật bộ, Luận bộ, sử truyện, các tác phẩm của Trung Quốc, Nhật Bản, v.v.(21).
Pháp tu
Bản tôn pháp của Khổng Tước Minh Vương rất được coi trọng trong Đông Mật, được gọi là Khổng Tước kinh pháp hoặc Khổng Tước Minh Vương kinh pháp. Một pháp tu trong kinh Phật Mẫu Đại Kim Diệu Khổng Tước Minh Vương hoặc Khổng Tước Minh Vương nghi quỹ. Tu trì pháp của Khổng Tước Minh Vương có đầy đủ các tác dụng kỳ diệu như kính ái, điều phục, tăng ích, tức tai, có thể trừ bỏ các loại độc hại như tham, sân, si, mạn, nghi trong tâm chúng sinh, khiến tâm tính của họ được thanh tịnh, khiến Bồ-đề trí tuệ, từ bi của họ được viên mãn, chứng được Phật quả vô thượng. Tu hành pháp môn của ngài rất có hiệu nghiệm đối với bảo vệ đất nước, tiêu diệt tai họa, cầu mưa hoặc ngừng mưa, trừ bệnh tật, bảo vệ thai sản/an sản, có thể trừ bỏ tất cả độc hại, dẹp mọi tai nạn và sự sợ hãi, mọi bệnh tật được tiêu trừ, ngày đêm may mắn, tuổi thọ kéo dài(22).
Khi tu pháp, trước hết an trí tượng bản tôn là Minh Vương Khổng Tước 4 tay ở chính giữa, trên đại đàn đặt chày yết-ma, quyển kinh Phật bằng chữ Phạn (có cắm lông chim khổng tước), trong bình cắm 3 hoặc 5 cọng lông chim khổng tước, đồng thời an trí Kim cang bàn và lò hỏa xá đốt hoàn hương liên tục để cúng dường. Ngoài ra còn thiết đàn Hộ-ma, đàn Thánh thiên, đàn Thập nhị thiên. Đàn Hộ-ma 1 ngày 3 tòa; đàn Thánh thiên cuối đêm, giữa trưa 2 tòa; đàn Thập nhị thiên cuối đêm, giữa trưa 2 tòa; đàn Thập nhị thiên đầu đêm 1 tòa. Mỗi đàn đều tu pháp Khổng Tước Minh Vương kinh(23).
Một cách tổng quát, tuy Khổng Tước Minh Vương có những công năng diệu dụng trong cuộc sống thế tục cũng như trong tu tập nhưng việc thờ tự đối tượng này không phổ biến rộng rãi. Ở Trung Quốc, Khổng Tước Minh Vương và hình ảnh của ngài được tôn thờ tại nhiều ngôi chùa Phật giáo Trung Quốc. Ngày nay, sự tôn kính Khổng Tước Minh Vương được cho là có liên quan chặt chẽ đến chăm sóc y tế, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường và phúc lợi xã hội.
Ở Trung Quốc, một số ngôi chùa tôn thờ Khổng Tước Minh Vương bao gồm: chùa La Hán ở Trùng Khánh; chùa Ô Vưu, chùa Bảo Quang và chùa Phục Hổ ở Tứ Xuyên; chùa Thạch Phật ở Thiểm Tây; chùa Kim Quang Minh ở Phúc Kiến; cũng như chùa Cung Trúc ở Vân Nam.
Ở Đài Loan, việc tôn kính Khổng Tước Minh Vương được thúc đẩy bởi Hiệp hội Phật giáo Khổng Tước Trung Quốc, có trụ sở chính đặt tại chùa Khai Thành; ở Singapore, một ngôi chùa tôn kính Khổng Tước Minh Vương là chùa Hua Gim Si.
Ở Nhật Bản, Khổng Tước Minh Vương được biết đến với tên gọi Kujaku Myoo. Có một ghi chép cho biết Khổng Tước Minh Vương đã được tôn thờ vào thời kỳ Nara, và hình ảnh của Khổng Tước Minh Vương được đặt tại chùa Saidai-ji Kondo mới xây dựng.
Những trường hợp này có phần tương tự ở xứ ta. Hình tượng vị Minh Vương ngồi trên chim công chỉ thấy có mặt tại một số ít chùa chiền xứ ta.
_________
(1)Theo:
- John C. Huntington, Dina Bangdel (2003), The Circle of Bliss: Buddhist Meditational Art, Serindia xb, tr.24-25.
- Roshen Dalal (2010), The Religions of India: A Concise Guide to Nine Major Faiths, Penguin xb, tr.218.
- Miranda Eberle Shaw (2006), Buddhist Goddesses of India, Đại học Princeton xb, tr.233, 339-341, 465 ghi chú 77.
(2)Theo:
- Thích Minh Tuệ (2012), Thần bản tôn, NXB.Hồng Đức, tr.274-277.
- Thích Minh Cảnh chủ biên, Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 4: H, I, K, KH; tr.3541.
(3)Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Trung Quốc Phật giáo, đồ tượng giảng thuyết, NXB.TP.HCM, tr.197-200.
(4)“JAANUS/ Kujaku Myouou”. www.aisf.or.jp.
[https://www.aisf.or.jp/~jaanus/deta/k/
kujakumyouou.htm].
(5)Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB.Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du, mục từ “con công”, tr.210-211.
(6)Viện Tô-tất-địa (Phạn: Susiddhi-kara) là một trong 12 viện thuộc mạn-đà-la Thai tạng giới trong Mật tông, nằm ở phía Tây của lớp thứ 3. Viện này thờ các vị tôn tượng mang ý nghĩa diệu thành tựu, tượng trưng cho sự thuần tịnh và thắng diệu của Phật quả.
(7)Art Institute of Chicago (2004), Notable Acquisitions at the Art Institute of Chicago, Đại học Illinois xb, tr.36.
(8)“Buddhist Deity: Pancha Raksha Main Page”, Himalayan Art Resources.
[https://www.himalayanart.org/search/set.cfm?setID=736].
(9)Theo:
- Thích Minh Tuệ (2012), Sđd.
- Nghiệp Lộ Hoa, Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ (2001), Sđd.
(10)Thích Minh Cảnh chủ biên, Sđd, tr.3541.
(11)Theo:
- Thích Minh Tuệ (2012), Sđd.
- Thích Minh Cảnh chủ biên, Sđd, tr.3542.
(12)Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Sđd.
(13)Thích Minh Cảnh chủ biên, Sđd, tr.3542.
(14)Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Sđd.
(15)Mahamayuri Tantra [https://www.scribd.com/document/404209978/Mahamayuri-pdf].
(16)Thích Minh Tuệ (2012), Sđd.
(17)Thích Minh Tuệ (2012), Sđd.
(18)SKR Rao (1985), Encyclopaedia of Indian Medicine, Popular Prakashan xb, tr.73.
(19)John C. Huntington, Dina Bangdel (2003), Sđd.
(20)Thích Minh Cảnh chủ biên, Sđd, tr.3541.
(21)Thích Minh Cảnh chủ biên, Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 4: H, I, K, KH; tr.3540.
(22)Thích Minh Tuệ (2012), Sđd.
(23)Thích Minh Cảnh chủ biên, Sđd, tr.3542.
(NSGN 363)


