Dân tộc nào cũng có một pho sách trang trọng nhấn mạnh về hiếu đạo. Ca dao Việt Nam có câu nói làm chạnh lòng mỗi người con hiếu thảo: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa; miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”. Thực vậy, hồi tưởng về phụ mẫu luôn luôn khiến chúng ta chạnh lòng, khiến chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động nhớ đến công ơn cao dày của cha mẹ, nhớ đến ân đức “cưu mang trứng nước những ngày còn thơ”.
Nhân mùa Vu lan, chúng ta đi vào những lời dạy của Đức Phật lưu trong Kinh tạng Pāli và tìm xem Ngài đã nói về hiếu hạnh và thể hiện hiếu hạnh như thế nào trong vai trò một bậc Giác ngộ. Chắc chắn có những bài học to lớn lưu xuất từ nghĩa cử hiếu hạnh và những lời dạy nhấn mạnh về hiếu đạo của một bậc Giác ngộ như Đức Phật. Một vài nơi trong Kinh tạng Pāli, Đức Phật thuật lại cuộc đời may mắn của Ngài từ lúc còn là thai nhi cho đến lúc trưởng thành, được thương yêu, nuôi dưỡng và chăm sóc tận tình chu đáo, để nói lên tình thương yêu to lớn của cha mẹ Ngài, đồng thời cũng là cách Ngài tưởng nhớ đến ân đức của cha mẹ mình.
Trong kinh Trung bộ, Ngài trang trọng kể lại cho Tôn giả Nanda:
“Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Nanda, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay”.
“Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Nanda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ”.
“Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Nanda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Đâu-suất”.
Một tài liệu khác lưu trong tuyển tập Anguttaranikāya ghi chép lời Đức Phật nói về quãng thời gian niên thiếu của Ngài, sống trong cung điện của vua cha, được phụ thân quan tâm nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo như thế nào:
“Này các Tỷ-kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, tối thắng nuôi dưỡng tế nhị, cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị. Này các Tỷ-kheo, trong nhà phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen xanh, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỷ-kheo, là không từ ksi đến. Bằng vải ksi là khăn của Ta, này các Tỷ-kheo. Bằng vải ksi là áo cánh, bằng vải ksi là nội y, bằng vải ksi là thượng y. Đêm và ngày, một lọng trắng được che cho Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỷ-kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa”.
Tất cả kinh văn trên là lời Đức Phật nói về cuộc đời của Ngài từ lúc còn ở trong thai mẹ cho đến lúc trưởng thành, luôn luôn được sống trong tình yêu thương và sự chăm sóc tận tình của cha mẹ Ngài. Ngài kể sự kiện Ngài nhập vào thai mẹ, được bảo vệ và chăm sóc cẩn thận chu đáo ra sao trong thời gian mẹ Ngài mang thai, và sự kiện khi Ngài ra đời được hân hoan chào đón, chăm sóc và nâng niu như thế nào. Ngài cũng nói cho chúng ta biết Ngài đã được nuôi dưỡng tế nhị như thế nào trong lúc còn là vị thái tử sống trong cung điện của vua cha. Tất cả những lời phát biểu này một mặt nói lên phước đức vô lượng vô biên của Ngài do tích lũy trong nhiều đời kiếp mà nay Ngài được thừa hưởng như là kết quả. Nhưng mặt khác, những lời phát biểu của Ngài cũng gián tiếp cho thấy Ngài rất thương quý và rất nhớ ơn cha mẹ mình.
Đức Phật nói về cuộc đời may mắn của Ngài như là một cách Ngài tưởng nhớ đến ân đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình. Ân đức ấy thật to lớn. Càng to lớn hơn nữa khi mà cả phụ thân và mẫu thân của Ngài đều dồn hết tâm trí và tình thương yêu vào việc bảo vệ và chăm sóc chu đáo cho Ngài ngay trong lúc Ngài còn là thai nhi. Bằng chứng là cả phụ mẫu của Ngài đều một lòng một dạ tu nhân tích đức để vun trồng phước đức cho thai nhi và sửa soạn mọi duyên lành may mắn cho sự chào đời của Ngài. Tất cả kinh điển còn lưu lại đều nói rõ trước và trong thời gian mang thai Ngài, cha mẹ Ngài thường xuyên mở tâm bố thí, cúng dường, nỗ lực làm các việc lành và chuyên giữ tịnh giới để gieo nhân lành cho sự ra đời của Ngài.
Trong các mô tả của Ngài, Đức Phật nói cho chúng ta biết các ân đức to lớn Ngài nhận được từ cha mẹ Ngài. Ngài nhớ lại cảm giác được bảo vệ an ổn tuyệt đối khi ở trong thai mẹ. Cả mẹ Ngài và Ngài được bảo vệ cẩn thận, không bị bất cứ ai quấy rầy hay làm phiền nhiễu. Ân đức này thuộc về phụ thân của Ngài, là người ngày đêm lo canh giữ cho Ngài và mẹ Ngài được an toàn tuyệt đối trong thời gian mẹ Ngài mang thai Ngài.
Ngài cũng cảm nhận được sự mát mẻ thoải mái hay cảm giác thanh lương khi nằm trong thai mẹ, nhờ mẹ Ngài có giới hạnh thanh tịnh. Trong thời gian mang thai Ngài, mẹ Ngài tuyệt nhiên không sát sanh, không lấy của không cho, không tà tư tà hạnh, không nói dối, không uống rượu. Ân đức này thật hết sức cao quý và thiêng liêng, vì Ngài đã được nuôi dưỡng tế nhị bởi giới hạnh thanh tịnh và đức hiền lương của người mẹ. Người mẹ nào cũng thương con. Nhưng không phải người mẹ nào cũng biết thương con mình bằng cách giữ giới hạnh thanh tịnh. Giới đức thanh tịnh của người mẹ chính là một nguồn năng lượng nuôi dưỡng tâm tư trong sáng và khí chất hiền lành của con cái mình. Đức Phật ở trong thai mẹ đã thừa hưởng được phước đức lớn nhờ giới hạnh thanh tịnh của mẹ Ngài. Ngài được hấp thụ và được nuôi dưỡng bởi khí huyết thanh tịnh của bà mẹ. Ngài cũng được giáo dưỡng trong sáng và hiền hòa bởi đức thanh tịnh và hiền từ của mẹ Ngài ngay trong lúc còn ở trong bào thai.
Đức Phật cũng nhớ đến ân đức được chăm sóc chu đáo bởi cha mẹ mình. Ngài nói đến việc mẹ Ngài được thụ hưởng đầy đủ các tiện nghi vật chất, khiến thân thể bà khỏe mạnh, không tật bệnh, cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Ân đức này có được là nhờ phụ thân Ngài không ngừng lo lắng chăm sóc cho mẹ Ngài một đời sống sung túc với đầy đủ thức ăn bổ dưỡng. Mẹ Ngài mang thai Ngài được chăm sóc chu đáo, có sức khỏe tốt cũng đồng nghĩa là Ngài, thai nhi, được chăm sóc cẩn thận và chu đáo. Ngài ở trong thai mẹ cũng cảm nhận được sự khỏe khoắn thoải mái do thể trạng và sức khỏe tốt của bà mẹ.
Đức Phật cũng cảm nhận được tình thương yêu trìu mến của cha mẹ mình lúc còn nằm trong bào thai, qua công ơn chăm lo săn sóc chu đáo và qua niềm hân hoan của cha mẹ Ngài mỗi ngày ngắm nhìn Ngài dần lớn lên trong thai mẹ. Ngài được cha mẹ mình thương quý, ngày ngày vỗ về chuyện trò trong niềm hân hoan hỷ lạc mong Ngài sớm chào đời.
Ngài là người biết ơn và nhớ ơn rất lớn đối với cha mẹ mình. Xuất phát từ những cảm nhận tinh tế và cái nhìn minh triết của một bậc Giác ngộ, Đức Phật tán dương công đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình một cách hết sức trang trọng và đầy ý nghĩa. Ngài cho rằng Ngài được chăm sóc rất kỹ và thừa hưởng được nhiều tinh hoa phước đức to lớn từ cha mẹ mình.
Giây phút chào đời của Ngài được chờ đợi và được sửa soạn chu đáo bởi cả chư thiên và loài người. Ngài nói đến cảnh chư thiên và loài người thận trọng đỡ Ngài ra khỏi bụng mẹ với niềm hân hoan tột bậc gọi Ngài là bậc vĩ nhân. Ngài cảm nhận được sự tinh khiết sạch sẽ khi chào đời, một phần nhờ giới đức thanh tịnh của mẹ Ngài và một phần khác do sự chăm sóc kỹ lưỡng của những vị hộ sản. Ngài cũng cảm nhận được sự sảng khoái thoải mái lúc mới chào đời, nhờ được tắm rửa sạch sẽ và chăm sóc kỹ về hộ sinh và y tế. Nhìn chung, Đức Phật rất biết ơn và nhớ ơn nhiều người đã tận tâm tận lực lo lắng cho Ngài và mẹ Ngài được mẹ tròn con vuông một cách hết sức mỹ mãn.
Mẹ Ngài sinh Ngài được bảy ngày thì qua đời. Đức Phật lớn lên không có mẹ, nhưng bù lại Ngài được người dì ruột là bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề tận tâm nuôi nấng và được phụ thân Ngài là vua Tịnh Phạn hết lòng thương yêu, chăm lo cho mọi bề. Ngài thuật lại cảnh Ngài được nuôi dưỡng hết sức tế nhị trong cung thành, được vua cha quan tâm lo lắng cho mọi thứ bằng tình thương của người cha đức độ.
Ngài là người biết ơn và nhớ ơn rất lớn đối với cha mẹ mình. Xuất phát từ những cảm nhận tinh tế và cái nhìn minh triết của một bậc Giác ngộ, Đức Phật tán dương công đức sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình một cách hết sức trang trọng và đầy ý nghĩa.
Ngài cho rằng Ngài được chăm sóc rất kỹ và thừa hưởng được nhiều tinh hoa phước đức to lớn từ cha mẹ mình. Ngài được chăm lo bảo vệ chu đáo bởi phụ thân và được nuôi dưỡng tế nhị bởi tình thương và đức hạnh trong sáng, hiền thiện của bà mẹ.
Ngài cũng cảm nhận tâm lý không có mẹ từ thuở nhỏ, nhưng đáp lại Ngài được phụ thân hết lòng yêu quý, tận tâm nuôi dưỡng và chăm lo cho Ngài một cách hết sức mỹ mãn.
Những phát biểu trang trọng Đức Phật dành để nói về ân đức của cha mẹ mình gợi cho chúng ta nhiều ý tưởng sâu xa và bài học bổ ích về cuộc sống. Ngài nhấn mạnh công ơn của cha mẹ mà đồng thời cũng gợi mở một phương pháp tuyệt hay cho các bậc làm cha mẹ. Ngài không chỉ nhắc nhở những người làm con phải luôn luôn nghĩ nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn của cha mẹ, mà Ngài còn gián tiếp khuyên nhắc các bậc cha mẹ cần phải có tấm lòng nhân hậu và hiểu biết sáng suốt đối với con cái của mình trước khi chúng ra đời.
Ngài gợi ý cho chúng ta rằng, ngoài việc chăm lo săn sóc tốt cho bà mẹ trong thời gian mang thai, sự kiện các bậc cha mẹ biết tu nhân tích đức cho con bằng việc giữ giới thanh tịnh, tu tâm dưỡng tánh, làm các việc lành, sống với tâm hoan hỷ là tuyệt đối cần thiết cho thai nhi, giúp thai nhi hấp thụ và phát triển tốt về nhiều phương diện. Nói khác đi, những phát biểu của Đức Phật về công ơn cha mẹ mình là tuyệt đối cần thiết và hữu ích cho công tác nghiên cứu về chế độ và phương pháp chăm sóc bà mẹ và thai nhi.
Nói tóm lại, Đức Phật là một người con rất mực hiếu thảo. Ngài luôn luôn nhớ đến ân đức của cha mẹ. Ngài dùng những lời lẽ hết sức trang trọng để nói về công ơn của cha mẹ mình.
Truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ lưu nhiều truyền thuyết nói rằng vào năm thứ bảy sau ngày giác ngộ, Đức Phật lên tận cung trời Đâu-suất thuyết pháp cho mẹ mình và các chư thiên hiện hữu trong cảnh giới ấy. Tài liệu Luật tạng Pāli cho biết Ngài xuất gia tu hành và thành đạo xong thì quay về quê hương Kapilavatthu, hướng dẫn an trí phụ thân vào Thánh đạo, hóa độ cho nhiều thân bằng quyến thuộc đi theo Thánh pháp giải thoát. Tài liệu kinh Tăng chi bộ xác nhận Đức Phật đồng ý cho di mẫu Mahā Pajāpati Gotamī xuất gia thành lập giáo đoàn Ni giới sau những lời thỉnh cầu của Tôn giả Ānanda đi kèm với sự trình bày hợp lý về đức năng và công ơn dưỡng dục của di mẫu Gotamī khi Thế Tôn còn trẻ nhỏ.
Các truyền thuyết Thượng tọa bộ còn nói rằng khi vua Tịnh Phạn đau yếu sắp băng hà, Đức Phật đã hàng ngày tự tay chăm sóc cho phụ vương bên giường bệnh, tiếp tục khuyến giáo và sách tấn cho nhà vua an trú sâu vào Thánh pháp giải thoát, đạt được mục đích dứt sạch các phiền não lậu hoặc khi vừa mệnh chung. Ngài rời khỏi kinh thành Ca-tỳ-la-vệ sau khi đã tự thân lo hậu sự chu toàn cho phụ vương Suddhodana. Tất cả thông tin trên cho thấy tâm hiếu và hạnh hiếu của Đức Phật là cao cả, đầy tình người, xứng đáng là bài học muôn thuở cho mọi người chúng ta nỗ lực học tập và noi gương.
Đức Phật chứng nghiệm công ơn cao dày và hết sức thiêng liêng của các bậc cha mẹ đối với con cái như vậy nên Ngài hiểu thế nào là cách báo hiếu báo ân cha mẹ đúng đắn nhất. Trước hết, Ngài xem hiếu đạo là hạnh phúc của gia đình, sự hiếu kính cha mẹ là nền tảng của đạo đức và hạnh phúc hướng thượng, đáng được tôn thờ và ứng dụng trong mỗi gia đình. Ngài nhấn mạnh hiếu hạnh có giá trị lớn, đặt cha mẹ ngang hàng với tín ngưỡng Phạm thiên, ngang hàng với các đạo sư cổ xưa, để khuyên nhắc con cái cần phải hết mực tôn thờ và cung kính cúng dường. Bậc Giác ngộ tuyên bố:
“Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các đạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.
Phạm thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các đạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Đáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời”.
Với trí tuệ của bậc Giác ngộ, Đức Phật cho rằng ân đức cha mẹ là vô lượng vô biên mà con cái khó lòng đền đáp được, trừ phi người con khéo thực hành đạo lý giác ngộ và giúp cho cha mẹ thấu hiểu và thực hành đạo lý giác ngộ. Ngài nhấn mạnh:
“Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm cho đến 100 tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với mẹ cha không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha”.
Chúng ta may mắn được Đức Phật thương tưởng chỉ bày cho cách thức báo hiếu báo ân cha mẹ hết sức thiết thực và đầy ý nghĩa. Ngài dạy chúng ta phải hết lòng chăm lo săn sóc cho cha mẹ một cách đầy đủ từ vật chất cho đến tinh thần. Đặc biệt Ngài nhấn mạnh đến nếp sống tu tập đạo lý giác ngộ và khuyến khích cha mẹ thực hành đạo lý giác ngộ như là một phương pháp báo hiếu báo ân sáng suốt, giúp cho cha mẹ có được hạnh phúc hướng thượng, lần lượt đi đến giác ngộ, đi đến an vui giải thoát.
Lời dạy của Đức Phật nói cho ta biết rằng công ơn của cha mẹ là thâm sâu, vô cùng vô tận, mà ta có cung kính phụng dưỡng thế nào cũng không thể đền đáp được. Phụng dưỡng hết lòng, săn sóc vật chất đầy đủ cho cha mẹ là điều tốt, đáng làm, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để đáp đền thâm ân của cha mẹ. Vì vậy, song song với lòng hiếu thảo phụng dưỡng, con cái cần phải học tập đạo lý giác ngộ để giúp cho cha mẹ khởi tâm tu tập mà sớm được giác ngộ. Nghĩa là, ngoài việc chăm lo cung phụng đời sống vật chất đầy đủ cho cha mẹ, người Phật tử phải sống đời sống đạo đức chánh kiến và khuyến khích cha mẹ thực hành nếp sống đạo đức chánh kiến. Có như vậy thì việc báo hiếu báo ân mới trọn đủ, mới đưa đến kết quả tốt lành cho mình và cho cha mẹ mình.
Nói cách khác, chăm lo phụng dưỡng vật chất đầy đủ cho cha mẹ chỉ giúp cho cha mẹ có được hạnh phúc hiện tại nhưng không bảo đảm hạnh phúc tương lai. Vừa chăm lo đời sống vật chất đầy đủ cho cha mẹ vừa khuyến khích, tạo điều kiện cho cha mẹ thực hành đạo lý giác ngộ mới khiến cho cha mẹ vui hưởng hạnh phúc vững bền, hạnh phúc đời này và an lạc đời sau, nhờ công đức phước báo mà cha mẹ tích tập được trong khi thực hành đạo lý giác ngộ.
Chúng ta may mắn được Đức Phật thương tưởng chỉ bày cho cách thức báo hiếu báo ân cha mẹ hết sức thiết thực và đầy ý nghĩa. Ngài dạy chúng ta phải hết lòng chăm lo săn sóc cho cha mẹ một cách đầy đủ từ vật chất cho đến tinh thần. Đặc biệt Ngài nhấn mạnh đến nếp sống tu tập đạo lý giác ngộ và khuyến khích cha mẹ thực hành đạo lý giác ngộ như là một phương pháp báo hiếu báo ân sáng suốt, giúp cho cha mẹ có được hạnh phúc hướng thượng, lần lượt đi đến giác ngộ, đi đến an vui giải thoát.
Nhân ngày Vu lan-Báo hiếu, mỗi người con Phật hãy nhớ đến tấm gương hiếu thảo của Đức Phật và hãy lắng tâm ghi nhớ những lời Đức Phật dạy về công ơn dưỡng dục của cha mẹ để hiểu hơn nữa, khắc sâu hơn nữa ân đức trời biển của cha mẹ và để nỗ lực hơn nữa trong nếp sống báo hiếu báo ân, sao cho cha mẹ mình được hạnh phúc và an lạc lâu dài trong hướng đi của đạo giác ngộ, đúng như lời Đức Phật đã dạy.
----------------------
1 Kinh Đất, Tăng chi bộ.
2 Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp, Trung bộ.
3 Kinh Được nuôi dưỡng tế nhị, Tăng chi bộ.
4 Kinh Mahā Pajàpati Gotamī, Tăng chi bộ.
5 Kinh Ngang bằng với Phạm thiên, Tăng chi bộ.
6 Kinh Đất, Tăng chi bộ.
